Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 502/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08 - 8 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hoàng Tuấn

Bà Trương Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 202/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 380/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 454A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Thành Q, sinh năm 1965 (Lê Thành Q, sinh năm 1969). Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1967. Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim H: Luật sư Phạm Thái B – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng ông Lê Thành Q trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Kim H do mai mối, tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1986, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 132, ngày 20 tháng 9 năm 2004. Quá trình chung sống cuộc sống ban đầu đầm ấm, hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống. Đến năm 2021 đến nay thì bà Nguyễn Thị Kim H chấp hành án tại Trại giam Đ. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim H; Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng ông bà có với nhau hai con chung tên Lê Thành A, sinh ngày 09/10/1987 và Lê Thành P, sinh ngày 30/7/1991, hiện các con đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời ông Lê Thành Q có đơn đề nghị Toà án không tiếp tục tiến hành hoà giải mà sớm đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim H vắng mặt các lần Tòa án triệu tập nhưng có trình bày như sau:

Ngày 17/5/2024 bà trình bày lời khai theo Biên bản ghi lời khai và bản tự khai như sau: Do bà đang chấp hành án nên bà không đồng ý ly hôn, bà yêu cầu khi nào chấp hành án xong sẽ đến Tòa án Châu Phú giải quyết. Trong thời gian chung sống vợ chồng ông bà có với nhau hai con chung tên Lê Thành A, sinh ngày 09/10/1987 và Lê Thành P, sinh ngày 30/7/1991, hiện các con đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Vợ chồng không có nợ chung nhưng có tài sản chung là 300 công đất ruộng tại huyện T, bà yêu cầu cho bà sau khi chấp hành án xong về sẽ giải quyết.

Ngày 09/7/2024 bà có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày ý kiến như sau: Bà yêu cầu giải quyết xong về tài sản thì bà mới đồng ý ly hôn; tài sản gồm khoảng 200 công đất tọa lạc tại huyện T trị giá khoảng 2 tỷ đồng và 01 cái kho trị giá 500.000.000đ. Bà yêu cầu chia làm 4 phần theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà,

Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn khởi kiện và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm về vụ án như sau:

  • Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Thành Q đối với bà H; Về con chung: Không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét; Về án phí, quyền kháng cáo giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Lê Thành Q yêu cầu ly hôn với bà H. Do đó, HĐXX xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Kim H có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho bà Nguyễn Thị Kim H. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.

[1.4] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Ông Lê Thành Q vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Kim H vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Thành Q và bà Nguyễn Thị Kim H là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.5] Về người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim H: Hội đồng xét xử thấy rằng, ngày 27/7/2024 Luật sư Phạm Thái B có Thông báo không tham gia tố tụng trong vụ án này và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Lê Thành Q và bà Nguyễn Thị Kim H đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa ông Lê Thành Q và bà Nguyễn Thị Kim H là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông Lê Thành Q cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Bà Nguyễn Thị Kim H không đồng ý ly hôn với ly do là phải giải quyết xong tài sản giữa bà với ông Q bà mới đồng ý ly hôn. Điều này thể hiện bà không còn tình cảm với ông Lê Thành Q, việc bà không đồng ý ly hôn là do chưa giải quyết tài sản giữa bà với ông Lê Thành Q. Mặt khác ông Lê Thành Q kiên quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim H. Do đó, đã thể hiện giữa vợ chồng ông bà đã không còn yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nghĩa là ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của ông Lê Thành Q đối với bà Nguyễn Thị Kim H là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung:

Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Lê Thành Q và bà Nguyễn Thị Kim H có hai con chung tên Lê Thành A, sinh ngày 09/10/1987 và Lê Thành P, sinh ngày 30/7/1991, hiện các con đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:

HĐXX thấy rằng, ông Lê Thành Q không yêu cầu Tòa án giải quyết; ngày 17/5/2024 bà Nguyễn Thị Kim H có trình bày về tài sản nhưng yêu cầu khi nào bà chấp hành án xong thì bà sẽ yêu cầu giải quyết nên thời điểm này Tòa án không xem xét giải quyết. Do đó, đến ngày 08/6/2024 Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đến ngày 09/7/2024 bà tiếp tục có văn bản yêu cầu chia tài sản chung nhưng không có tài liệu chứng cứ kèm theo và yêu cầu của bà sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không có cơ sở xem xét giải quyết trong cùng vụ án này. Trường hợp bà có tranh chấp thì có thể khởi kiện bằng vụ kiện khác.

[3] Về án phí:

Ông Lê Thành Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bà Nguyễn Thị Kim H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 19; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Thành Q đối với bà Nguyễn Thị Kim H. Ông Lê Thành Q và bà Nguyễn Thị Kim H ly hôn.

  2. Về quan hệ con chung: Không xem xét.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí:

    Ông Lê Thành Q phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005554 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, đương sự có mặt tính kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - UBND xã Bình Mỹ, H.Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 502/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 502/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger