Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 502/2024/DS-ST

Ngày: 15-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
  2. Bà Lâm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 578/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 824/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1058/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1;

Địa chỉ: A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D– Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung L, sinh năm: 1980;

Địa chỉ liên hệ: A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số 463/BSG-HCNS ngày 05/6/2023).

(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn N, sinh năm: 1994;

Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2023, bản tự khai ngày 04/3/2024, ngày 07/6/2024, cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 trình bày:

Ngày 19/01/2022, ông Nguyễn Tấn NNgân hàng TMCP N1 – Chi nhánh B (Sau đây gọi tắt là V) ký kết Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC và Giấy nhận nợ số 01 ngày 20/01/2022, theo đó V cho ông Nguyễn Tấn N vay số tiền: 11.000.000.000 VND, mục đích vay: Bù đắp tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 2-4, Phường D, Thành phố T, Tỉnh Long An và Thửa đất số 222, tờ bản đồ số 2-4, Phường D, Thành phố T, Tỉnh Long An.

Thời hạn cho vay: 240 tháng.

Lãi suất cho vay trong hạn: 7,3%/năm và cố định trong thời gian áp dụng là 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Sau đó lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ.

Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả: 10%/năm trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lịch trả nợ vay: Trả nợ gốc trong 240 kỳ trả nợ (mỗi kỳ là 01 tháng), trả vào ngày 05 hàng tháng, ngày trả gốc đầu tiên là ngày 05/02/2022, kỳ 1 đến kỳ 239 trả số tiền: 45.830.000 đồng, kỳ 240 trả số tiền: 46.630.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: trả lãi trong khoảng thời gian 06 ngày được tính từ ngày tiếp theo của ngày lên phiếu tính lãi là ngày 05 hàng tháng theo dư nợ thực tế.

Tính đến ngày 15/8/2024 ông Nguyễn Tấn N đã trả được số tiền gốc là: 505.662.763 đồng, trả được số tiền lãi là: 686.748.601 đồng, trả được tiền lãi phạt là: 154.371 đồng, dư nợ gốc còn lại là: 10.494.337.237 đồng.

Tổng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 15/8/2024 là: 12.258.109.355 đồng, bao gồm: nợ gốc: 10.494.337.237 đồng, nợ lãi: 1.728.158.288 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.613.830 đồng.

Dư nợ gốc và lãi hiện nay của ông N tại V được thế chấp bằng tài sản cụ thể như sau :

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 05/TC/BSG22-CC ngày 19/01/2022.

Bên thế chấp: Ông Nguyễn Tấn N.

Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 2-4, địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An và Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 222, tờ bản đồ số 2-4, địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An với giá trị tài sản thế chấp là: 17.170.000.000 VND. Giao dịch thế chấp tài sản đã được Văn Phòng Công chứng Phạm Thị H công chứng giao dịch ngày 19/01/2022 (Số công chứng 685, Quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD) và đăng ký giao dịch đảm bảo theo số thứ tự 00492, quyển số 01, ngày 19/01/2022

và số thứ tự 00493, quyển số 01, ngày 19/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đ tại thành phố T, tỉnh Long An.

Khoản vay ông N phát sinh nợ quá hạn tại V kể từ tháng 01/2023. Từ ngày quá hạn đến nay, V đã nhiều lần tiếp xúc làm việc với ông N để giải quyết nợ vay quá hạn nhưng vẫn không có kết quả. Gần đây nhất, ông Nguyễn Tấn N đã có cam kết: chậm nhất đến ngày 31/03/2023 sẽ thanh toán các khoản nợ đang quá hạn tại V (Theo biên bản làm việc ngày 13/03/2023). Tuy nhiên, ông Nguyễn Tấn N đã không thực hiện cam kết trả nợ nói trên.

Tất cả các cam kết của ông N từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn cho đến nay đều chưa được thực hiện đúng theo nội dung làm việc giữa V với ông N. V đã đôn đốc, nhắc nhở ông N nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Ông N vẫn chây ỳ, không thu xếp nguồn tiền để trả nợ, không có sự hợp tác với VCB Bắc Sài Gòn trong việc xử lý nợ quá hạn. Như vậy, ông N đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với V.

  • Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Tấn N phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho nguyên đơn toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh đến ngày trả hết nợ, trong đó tạm tính đến ngày 15/8/2024 (do tiền lãi vẫn tiếp tục phát sinh) là: 12.258.109.355 đồng, bao gồm: nợ gốc: 10.494.337.237 đồng, nợ lãi: 1.728.158.288 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.613.830 đồng. Ông Nguyễn Tấn N còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ tại Ngân hàng theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký.
  • Trường hợp ông Nguyễn Tấn N không thực hiện trả nợ đúng thời hạn quy định, đề nghị phát mại các tài sản thế chấp bảo đảm nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 05/TC/BSG22-CC ngày 19/01/2022 để xử lý thu hồi nợ cho nguyên đơn.
  • Trường hợp số tiền phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì ông N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ vay.

Buộc ông Nguyễn Tấn N phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, phí thi hành án, chi phí phát sinh liên quan.

Ngoài ra, ngân hàng không còn yêu cầu nào khác.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn liên tục vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của

người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tấn N phải trả tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC ngày 19/01/2022. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét thấy Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng, hợp đồng tín dụng được thực hiện tại Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh B, địa chỉ: A đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 12 – nơi Hợp đồng được thực hiện giải quyết nên căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, nên căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về chứng cứ:

Tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

Tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn N được niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến tòa để trình bày, cung cấp chứng cứ. Do đó, việc ông N không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo thủ tục chung, mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình và giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1:

[4.1] Về hợp đồng tín dụng:

Xét Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC ngày 19/01/2022:

Căn cứ Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC ngày 19/01/2022 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 20/01/2022 thể hiện ông Nguyễn Tấn N được Ngân hàng TMCP N1 cho vay số tiền 11.000.000.000 đồng.

Thời hạn cho vay: 240 tháng.

Lịch trả nợ vay: Trả nợ gốc trong 240 kỳ trả nợ (mỗi kỳ là 01 tháng), trả vào ngày 05 hàng tháng, ngày trả gốc đầu tiên là ngày 05/02/2022, kỳ 1 đến kỳ 239 trả số tiền: 45.830.000 đồng, kỳ 240 trả số tiền: 46.630.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi: trả lãi trong khoảng thời gian 06 ngày được tính từ ngày tiếp theo của ngày lên phiếu tính lãi là ngày 05 hàng tháng theo dư nợ thực tế.

Mục đích sử dụng vốn: Bù đắp tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 2-4, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865636, số vào sổ cấp GCN CS07864 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019.

Xét hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP N1 với ông Nguyễn Tấn N được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được lập thành văn bản, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Căn cứ theo quy định tại các điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung đã thỏa thuận.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông N không thực hiện việc thanh toán tiền gốc, lãi theo đúng thỏa thuận đã ký kết giữa các bên là vi phạm Điều 9 của Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC ngày 19/01/2022 về chấm dứt cho vay và thu hồi vốn vay trước hạn nên ngày 06/01/2023 toàn bộ nợ vay của hợp đồng tín dụng nêu trên đã chuyển nợ quá hạn (nợ nhóm 2).

Theo Bảng tổng hợp gốc, lãi do ngân hàng cung cấp thì đến ngày 15/8/2024 ông N đã thực hiện thanh toán số tiền gốc là 505.662.763 đồng nên số tiền gốc ông N vẫn nợ ngân hàng là 10.494.337.237 đồng.

Về lãi suất trong hạn: theo khoản 6.1 Điều 6 của hợp đồng tín dụng thì lãi suất cho vay là 7,3%/năm và cố định trong thời gian áp dụng là 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Sau đó lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ.

Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn: theo khoản 6.1 Điều 6 của hợp đồng tín dụng thì lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khi khách hàng trả hết dư nợ gốc bị quá hạn.

Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả: theo khoản 6.1 Điều 6 của hợp đồng tín dụng thì mức lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 10%/năm trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; tại khoản 2 Điều 11, Quy chế ban hành kèm theo Quyết định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng số 1627/2001/QĐ-NHNNngày 31/12/2001 quy định: “Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận đối với khách hàng trong Hợp đồng tín dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng”; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định: “Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn” và căn cứ Điều 463, 465, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Như vậy, đối với lãi suất mà ngân hàng áp dụng đối với Hợp đồng tín dụng ký kết với ông N cũng như bản giải trình về tính lãi mà Ngân hàng xuất trình là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ngân hàng buộc ông N phải trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 15/8/2024 là: 12.258.109.355 đồng, bao gồm: nợ gốc: 10.494.337.237 đồng, nợ lãi: 1.728.158.288 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.613.830 đồng.

[3.2] Về hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Về Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 05/TC/BSG22-CC ngày 19/01/2022:

Để bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC ngày 19/01/2022 Ngân hàng TMCP N1 và ông Nguyễn Tấn N đã ký Hợp đồng

thế chấp quyền sử dụng đất số: 05/TC/BSG22-CC ngày 19/01/2022, tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 2-4, diện tích 1010,4m², địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865636, số vào sổ cấp GCN CS07864 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N và Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 222, tờ bản đồ số 2-4, diện tích 44,6m², địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865637, số vào sổ cấp GCN CS07863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N.

Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 05/TC/BSG22-CC số công chứng 685, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/01/2022 giữa ngân hàng và ông N đã được công chứng tại Văn Phòng C, tỉnh Long An. Theo nội dung hợp đồng thế chấp ông N đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 2-4, diện tích 1010,4m², địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865636, số vào sổ cấp GCN CS07864 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N và Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 222, tờ bản đồ số 2-4, diện tích 44,6m², địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865637, số vào sổ cấp GCN CS07863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N. Hợp đồng thế chấp nêu trên được công chứng viên Phạm Thị H thuộc Văn phòng C, địa chỉ: 1 T, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An chứng nhận việc ký kết Hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Tấn N và ngân hàng đã có phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số thứ tự 00492, quyển số 01, ngày 19/01/2022 và số thứ tự 00493, quyển số 01, ngày 19/01/2022 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai tại thành phố T, tỉnh Long An chứng nhận ngày 19/01/2022.

Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CPngày 29/12/2006 và Nghị định 11/2012/NĐ-CPngày 22/02/2012 của Chính phủ nên có đủ căn cứ để xác nhận hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lí và phát sinh hiệu lực. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2024 thể hiện hiện trạng tài sản thế chấp là đất trống, không có cây trồng hay tài sản gắn liền với đất nào khác trên các thửa đất nêu trên và có hiện trạng như tại biên bản định giá tài sản bảo đảm tại thời

điểm cho vay. Vì vậy, khi án có hiệu lực pháp luật ông N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm nếu không đủ trả nợ vay thì ông N vẫn phải tiếp tục trả hết khoản nợ vay cho nguyên đơn.

Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ông N phải chịu nên ông N có nghĩa vụ phải hoàn trả lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng theo Biên nhận tạm ứng chi phí tố tụng ngày 28/02/2024 cho Ngân hàng TMCP N1.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP N1 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền tạm ứng án phí là 59.508.412 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0030012 ngày 17/10/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.258.109 đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, 35, 40, 144, 147, 157, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 317, 318, 319, 463, 465, 466, 468, 500, 501 và 502 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 91, 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1.

Buộc ông Nguyễn Tấn N phải thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền còn nợ tính đến ngày 15/8/2024 theo Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC ngày 19/01/2022 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 20/01/2022 là: 12.258.109.355 (mười hai tỷ hai trăm năm mươi tám triệu một trăm lẻ chín nghìn ba trăm năm mươi lăm) đồng, trong đó: nợ gốc là: 10.494.337.237 (mười

tỷ bốn trăm chín mươi bốn triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi bảy) đồng, nợ lãi là: 1.728.158.288 (một tỷ bảy trăm hai mươi tám triệu một trăm năm mươi tám nghìn hai trăm tám mươi tám) đồng, nợ lãi quá hạn là: 35.613.830 (ba mươi lăm triệu sáu trăm mười ba nghìn tám trăm ba mươi) đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Tấn N còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký kết. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Tấn N không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và tiền lãi theo Hợp đồng cho vay số 06BBSG22-CC ngày 19/01/2022 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 20/01/2022 cho Ngân hàng TMCP N1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 501, tờ bản đồ số 2-4, diện tích 1010,4m², địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865636, số vào sổ cấp GCN CS07864 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N và Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 222, tờ bản đồ số 2-4, diện tích 44,6m², địa chỉ: Phường D, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865637, số vào sổ cấp GCN CS07863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 05/TC/BSG22-CC ngày 19/01/2022 ký giữa ông Nguyễn Tấn NNgân hàng TMCP N1.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Tấn N đối với Ngân hàng TMCP N1. Nếu số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP N1.

Trường hợp ông Nguyễn Tấn N trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP N1 thì ngân hàng phải tiến hành giải chấp và trả lại cho ông N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865636, số vào sổ cấp GCN CS07864 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 865637, số vào sổ cấp GCN

CS07863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2019, cập nhật chuyển nhượng ngày 13/01/2022 cho ông Nguyễn Tấn N.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ông Nguyễn Tấn N phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 10.000.000 (mười triệu) đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo Biên nhận tạm ứng chi phí tố tụng ngày 28/02/2024.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Tấn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.258.109 (một trăm hai mươi triệu hai trăm năm mươi tám nghìn một trăm lẻ chín) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền tạm ứng án phí là 59.508.412 (năm mươi chín triệu năm trăm lẻ tám nghìn bốn trăm mười hai) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0030012 ngày 17/10/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Ngân

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 502/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 502/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger