|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 501/2025/DS-ST Ngày: 19 - 6 - 2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
- Ông Đỗ Quang Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLST- DS ngày 03 tháng 01 năm 2025 về: “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 554/2025/QĐXXST- DS ngày 24 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 806/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
Địa chỉ trụ sở: Số B - B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1998; Giấy uỷ quyền số: 5984/2024/UQ-TGĐ ngày 27/8/2024; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Quốc C sinh năm 1986; (vắng mặt).
Địa chỉ: A Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - do ông Nguyễn Đình L là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 02/10/2015, ông Trần Quốc C có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), hạn mức tín dụng cho hai thẻ (số thẻ: 472074 – 5656, số thẻ: 970403 – 8132) số tiền là 30.000.000 đồng.
Sau khi được cấp hai Thẻ tín dụng, ông Trần Quốc C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 76.953.030 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông C đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 118.198.636 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Trần Quốc C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần Quốc C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/03/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Trần Quốc C và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 19/6/2025, ông Trần Quốc C còn nợ tổng số tiền 35.486.014 đồng, cụ thể như sau:
- + Số thẻ 472074 – 5656: Dư nợ là 24.572.862 đồng (trong đó: nợ gốc là 197.365 đồng, lãi quá hạn là 24.587.254 đồng).
- + Số thẻ 970403 – 8132: Dư nợ là 10.898.760 đồng (trong đó: nợ gốc là 0, lãi quá hạn là 10.898.760 đồng).
Do đó, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Quốc C phải trả ngay cho Ngân hàng nợ tín dụng là 35.486.014 đồng, thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông Trần Quốc C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, ông Trần Quốc C không có mặt tại Tòa án nên Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa:
Ông Nguyễn Đình L đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn – ông Trần Quốc C vắng mặt không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng việc thụ lý vụ án cũng như quá trình xây dựng hồ sơ, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định bị đơn còn nợ tín dụng như nguyên đơn trình bày là đúng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét Đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 02/10/2015 mà ông Trần Quốc C đã ký với Ngân hàng có hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 400 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3.2] Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền nợ phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 02/10/2015, tính đến ngày 19/6/2025 là 35.486.014 đồng, cụ thể như sau: Số thẻ 472074 – 5656 là 24.572.862 đồng (trong đó: nợ gốc là 197.365 đồng, lãi quá hạn là 24.587.254 đồng); Số thẻ 970403 – 8132 là 10.898.760 đồng (trong đó: nợ gốc là 0 đồng, lãi quá hạn là 10.898.760 đồng) và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong các Hợp đồng, Hội đồng xét xử xét:
Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Trần Quốc C vi phạm hợp đồng, không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn theo thỏa thuận. Ông Trần Quốc C không đến Toà án trình bày ý kiến, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Trần Quốc C có trách nhiệm thanh toán nợ gốc và lãi quá hạn của các thẻ tín dụng trên là 35.486.014 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng, là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 7 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 3, Điều 4, Điều 13, Điều 18, Điều 20, Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông Trần Quốc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.774.301 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí là 1.107.564 đồng.
[5]. Nội dung phát biểu ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 179, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 385, Điều 400, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 3, Điều 4, Điều 13, Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 21 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
- Buộc ông Trần Quốc C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 02/10/2015, tính đến ngày 19/6/2025 là 35.486.014 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn không trăm mười bốn đồng), cụ thể:
- + Số thẻ 472074 – 5656: Tổng dư nợ là 24.572.862 đồng (trong đó: nợ gốc là 197.365 đồng, lãi quá hạn là 24.587.254 đồng).
- + Số thẻ 970403 – 8132: Tổng dư nợ là 10.898.760 đồng (trong đó: nợ gốc là 0 đồng, lãi quá hạn là 10.898.760 đồng).
- Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Quốc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.774.301 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm lẻ một đồng).
Trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 1.107.564 đồng (Một triệu một trăm lẻ bảy nghìn năm trăm sáu mươi bốn đồng) theo Biên lai thu số 0045620 ngày 02/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ngân hàng TMCP S; ông Trần Quốc C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyết Nhung |
5
Bản án số 501/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 501/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
