TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 501/2024/HSST Ngày: 18/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Ông Nguyễn Văn Năm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 495/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2024/QĐXXST-HS ngày 29/8/2024 đối với:
Họ và tên: Võ Văn C. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Tiểu My; Sinh ngày 21/3/2005, tại An Giang; Nơi đăng ký thường trú: tổ D, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi ở: Không có nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Không. Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); Con ông Võ Thành N, sinh năm 1977 (còn sống) và bà Trần Thị Kiều N1, sinh năm 1979 (còn sống). Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 11/4/2024 đến ngày 20/4/2024 được hủy bỏ tạm giữ. Ngày 26/4/2024, bị bắt tạm giam theo Lệnh số 804/LTG ngày 24/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thành phố B.
- Bị hại:
- Anh Phạm Hà Quốc K, sinh năm 2006; Địa chỉ: 6/100B, tổ 13, KP.4, phường Tân Hiệp, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Anh Võ Nguyên Bảo K1, sinh năm 2006; Địa chỉ: tổ F, khu phố Đ, phường P, TP., tỉnh Đồng Nai
(Bị cáo có mặt, bị hại có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn C và đối tượng Thanh T (Chưa rõ lai lịch) là các đối tượng thuộc giới tính thứ ba (bê đê) hoạt động bán dâm tại khu vực cầu S thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng 22 giờ ngày 03/4/2022, Võ Văn C và Thanh T trang điểm, mặc quần áo của con gái để giả gái và đứng ở khu vực cầu S, thuộc phường T, thành phố B tìm khách mua dâm. Trong lúc đứng chờ người hỏi mua dâm, C và Thanh T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của khách mua dâm nên cùng thỏa thuận với nhau: Khi có khách mua dâm, C và Thanh T tìm cơ hội lúc khách không để ý sẽ trộm cắp tài sản của khách mua dâm, sau khi trộm được thì sẽ bán lấy tiền chia đôi.
Vào khoảng 23 giờ ngày 03/4/2022, anh Phạm Hà Quốc K (sinh năm 2006, ngụ tại tổ H, thôn E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận) chở anh Võ Nguyên Bảo K1 (sinh năm 2006, ngụ tại tổ F, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đến gặp C và Thanh T hỏi mua dâm. Sau khi thỏa thuận giá mua bán dâm, C, Thanh T cùng các anh Quốc K và Bảo K1 đi đến nhà nghỉ “Danh Đ” thuộc khu phố E, phường T, thành phố B thuê phòng để mua bán dâm. Khi đến nhà nghỉ “Danh Đạt”, T và anh Bảo K1 thuê phòng số 102, C và anh Quốc K thuê phòng số 108.
Khi vào phòng 102, T yêu cầu anh Bảo K1 đi tắm thì anh Bảo K1 đồng ý. Anh K1 cởi nhẫn và dây chuyền để trong hộc bàn trang điểm ngay đầu giường và đi tắm. Lợi dụng lúc anh Bảo K1 đi tắm không để ý, T đã lén lút chiếm đoạt 01 nhẫn và 01 dây chuyền vàng 18K của anh K1 rồi đi ra ngoài.
Cùng lúc này, C và anh Quốc K vào phòng 108 thì C yêu cầu anh Quốc K cởi quần áo thì Quốc K đồng ý và cởi quần áo để ở cuối giường, điện thoại của anh Quốc K để trong túi quần để trên giường. Khoảng 05 phút sau thì Thanh T đi qua phòng 108 gõ cửa và nói C mở cửa. Chương ra mở cửa thì Thanh T giả vờ nói với C “đổi người”. Sau đó, T đi lại gần khu vực anh Quốc K để quần áo đứng che khuất quần áo của anh Quốc K. Lợi dụng anh Quốc K không để ý và khuất tầm nhìn nên C đã lén lút lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng trong túi quần của anh Quốc K rồi đưa điện thoại cho Thanh T. Sau đó, C và T bỏ chạy ra ngoài. Anh Quốc K phát hiện bị mất điện thoại nên chạy đuổi theo C và Thanh T. Anh Bảo K1 đang tắm thì nghe tiếng ồn ào nên đi ra xem thì không thấy Thanh T trong phòng, kiểm tra thì phát hiện bị mất 01 nhẫn và 01 dây chuyền vàng 18K liền chạy ra phía trước cổng nhà nghỉ tìm Thanh T nhưng không thấy nên quay vào trong nhà nghỉ thì thấy C đang chạy ra ngoài nên cùng
anh Quốc K bắt giữ C và trình báo Công an phường T, thành phố B đến giải quyết. Riêng T chạy thoát. Công an phường T đã lập hồ sơ và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Ngày 19/4/2022, sau khi làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, do C phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Cơ quan điều tra đã trả tự do cho C về để tiếp tục điều tra. Sau khi về, C liên hệ với Thanh T và được Thanh T cho biết đã bán điện thoại được 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) và chuyển khoản chia cho C 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) thông qua số tài khoản 19037121157014, Ngân hàng T1 do Nguyễn Quốc N2 (sinh năm 1998, ngụ tại khu phố C, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh) là chủ tài khoản. Chương nhờ N2 nhận tiền chuyển khoản từ T và rút số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) đưa lại cho C. N2 không biết số tiền trên do phạm tội mà có. Số tiền này, C đã tiêu xài hết.
Ngày 11/04/2024, C đầu thú tại Công an phường T, thành phố B và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của C và Thanh T xảy ra ngày 03/4/2022 như trên. Công an phường T chuyển giao C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý.
- Vật chứng vụ án:
- 01 USB màu đỏ 16GB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh các đối tượng trộm cắp tại nhà nghỉ “Danh Đ” (Lưu trữ tại hồ sơ).
- Đối với 01 (Một) nhẫn, và 01 (Một) dây chuyền vàng 18K của anh Võ Nguyên Bảo K1 bị trộm cắp và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng của anh Phạm Hà Quốc K bị trộm cắp: không thu hồi được.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 2107/KL ngày 11/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS loại 64Gb trị giá 10.791.000₫ (Mười triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
- 01 (Một) nhẫn, 01 (Một) dây chuyền vàng 18K trị giá 8.333.000đ (Tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
- Tổng cộng: 19.124.000đ (Mười chín triệu một trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
- Tại bản Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 0374/KLGĐĐT-TTPYĐN ngày 22/4/2024 của Giám định viên Trung tâm P kết luận độ tuổi của Võ Văn C như sau: Võ Văn C có độ tuổi là 18 năm 06 tháng đến 19 năm 06 tháng kể từ ngày giám định 19/4/2024.
Quá trình điều tra:
- Võ Văn C và các anh Phạm Hà Quốc K, Võ Nguyên Bảo K1 khai: Các anh Quốc K, Bảo K1 và C, T thỏa thuận việc mua bán dâm với giá 250.000đ/người nhưng khi vào nhà nghỉ, C và T không bán dâm mà lén lút chiếm đoạt tài sản của các anh Quốc K, Bảo K1 và bỏ chạy.
- Nguyễn Quốc N2 và Võ Văn C khai: Do Võ Văn C không có tài khoản ngân hàng nên thường nhờ bạn bè chuyển tiền vào tài khoản của N2 rồi nhờ N2 rút tiền đưa lại cho C. Chương đã nhiều lần nhờ N2 nhận tiền chuyển khoản từ bạn bè của C vào tài khoản của N2, N2 không biết nội dung và nguồn gốc số tiền của C. Sao kê các giao dịch trong tài khoản ngân hàng của Nguyễn Quốc N2 từ ngày 01/4/2022 đến ngày 08/4/2022 không phát hiện tài khoản nào tên Thanh T, nội dung các giao dịch đều không ghi lý do chuyển tiền.
Về bồi thường: Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại
Tại bản Cáo trạng số 393/CT-VKSBH ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã kết luận: Võ Văn C và đối tượng Thanh T (chưa rõ lai lịch) có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS loại 64Gb của anh Phạm Hà Quốc K trị giá 10.791.000đ; 01 nhẫn và 01 dây chuyền vàng 18K của anh Võ Nguyên Bảo K1 trị giá 8.333.000đ và truy tố bị cáo Võ Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên buộc bị cáo bồi thường trị giá tài sản trộm cắp cho các anh Phạm Hà Quốc K, Võ Nguyên Bảo K1 theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã ban hành Quyết định số 44/2024/HSST-QĐ trả hồ sơ để điều tra bổ sung các chứng cứ thể hiện anh K1 sở hữu tài sản là chiếc nhẫn và sợi dây chuyển như anh K1 mô tả về nguồn gốc và đặc điểm; các chứng cứ thể hiện vào ngày 03/4/2022, anh K1 có đeo nhẫn và dây chuyền đến nhà nghỉ D và các chứng cứ thể hiện bị cáo C biết về việc Trà trộm cắp được sợi dây chuyền và nhẫn vàng của anh K1.
Tại Công văn số 1851/VKSBH ngày 20/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm tại Cáo trạng số 393/CT-VKSBH ngày 02/7/2024.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo chỉ thừa nhận cùng với đối tượng Thanh T trộm cắp chiếc điện thoại di động của anh Phạm Hà Quốc K, bị cáo không biết và không nghe Thanh T nói có trộm cắp 01 nhẫn và 01 dây chuyền vàng 18K của anh Võ Nguyên Bảo K1.
- Trong nội dung luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà nhận định: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận, sau khi trộm cắp có gọi cho T và biết T còn còn trộm nhẫn và dây truyền vàng của bị hại. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi lời khai nói không biết T trộm vàng. Lời khai của bị cáo không có căn cứ chấp nhận nên để nghị Hội đồng xét xử bác lời khai của bị cáo tại phiên tòa, ghi nhận lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Văn C theo Cáo trạng số 393/CT-VKSBH ngày 02/7/2024 và Công văn số 1851/VKSBH ngày 20/8/2024, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 07 (bảy) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại anh Võ Nguyên Bảo K1 và anh Phạm Hà Quốc K có đơn xin vắng mặt. Quá trình điều tra, các bị hại đã có lời khai đầy đủ và việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]Về hành vi bị truy tố, tội danh, các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
[2.1]. Đối với nội dung truy tố bị cáo Võ Văn C về hành vi trộm cắp 01 nhẫn và 01 dây chuyền vàng 18K của anh Võ Nguyên Bảo K1 trị giá 8.333.000₫:
Tại các lời khai của bị cáo từ bút lục 87 đến bút lục 99, bị cáo chỉ thừa nhận có trộm cắp của anh Phạm Hà Quốc K chiếc điện thoại và được Trà chia cho 2.000.000 đồng. Tại các bút lục số 91, 94, 96, bị cáo C khai: “Tôi chỉ biết bên phòng tôi thì trộm được 01 chiếc điện thoại, còn Trà trộm được gì thì tôi không biết, T cũng không nói cho tôi biết”. Ngoài lời khai của anh Võ Nguyên Bảo K1, hồ sơ không có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện anh K1 có sở hữu nhẫn và dây chuyền, anh K1 có mất tài sản không, ai là người trộm cắp tài sản của anh K1. Do đó, ngày 29/7/2024, Tòa án đã ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Sau khi Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra đã tiến hành hỏi cung bị can và lấy lời khai của bị hại anh Phạm Hà Quốc K. Tại Biên bản hỏi cung ngày 09/8/2024 (bút lục 179), bị cáo khai: “Sau khi trộm tài sản của Bảo K1 và Q xong, tôi có gọi điện thoại cho T và được T nói cho biết T có lấy của Bảo K1 01 dây chuyền vàng và 01 nhẫn vàng, tôi hỏi T bán dây chuyền và nhẫn được bao nhiêu tiền để chia đôi nhưng T không nói và không chia cho tôi số tiền bán dây chuyền và nhẫn, còn điện thọai của Bảo K1 thì T bán được 4.000.000đ, Trà chia cho tôi 2.000.000₫”. tại Biên bản ghi lời khai ngày 12/8/2024 (bút lục 178), anh Phạm Hà Quốc K khai: “Vào ngày 03/4/2022, khi đi chơi và khi vào nhà nghỉ D thì tôi thấy Bảo K1 đeo 01 nhẫn vàng và 01 dây chuyền vàng, sau đó thì bị T và C trộm cắp”. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo
thay đổi lời khai, không thừa nhận lời khai vào ngày 09/8/2024. Bị cáo cho biết bản thân không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Võ Nguyên Bảo K1, bị cáo không biết, không nhìn thấy, không nghe thấy Thanh T nói có trộm cắp 01 nhẫn và 01 dây chuyền vàng 18K của anh Võ Nguyên Bảo K1, không được T chia tiền bán nhẫn và dây chuyền cho bị cáo. Ngày 12/9/2024, anh K1 có đơn xin xét xử vắng mặt và văn bản trình bày ý kiến không yêu cầu bị cáo Võ Văn C bồi thường.
Như vậy, ngoài lời khai của các bị hại, không có bất kỳ tài liệu chứng cứ nào chứng minh nên không đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn C cùng đối tượng Thanh T (chưa rõ lai lịch) đã trộm cắp 01 nhẫn và 01 dây chuyền vàng 18K của anh Võ Nguyên Bảo K1.
[2.2]. Đối với hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS loại 64Gb của anh Phạm Hà Quốc K: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 23 giờ ngày 03/4/2022, tại các phòng số 102, 108 nhà nghỉ “Danh Đ” thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Võ Văn C và đối tượng Thanh T (Chưa rõ lai lịch) có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS loại 64Gb của anh Phạm Hà Quốc K trị giá 10.791.000₫ (Mười triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, được quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[2.3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
[2.4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
tại thời điểm phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị cáo không được học hành, không biết chữ, khả năng nhận thức pháp luật hạn chế. Do đó, áp dụng chương XII Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị
cáo để giáo dục, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3]. Về vật chứng vụ án:
01 USB màu đỏ 16GB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh các đối tượng trộm cắp tại nhà nghỉ “Danh Đạt”: tiếp tục lưu hồ sơ vụ án
[4]Về trách nhiệm dân sự:
Anh Võ Nguyên Bảo K1 không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Phạm Hà Quốc K yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.791.000 đồng. Xét yêu cầu của anh K là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 585, 589 Bộ luật Dân. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh K nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
[5]Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[6]Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng Thanh T (chưa rõ lai lịch) có hành vi trộm cắp tài sản của các anh Phạm Hà Quốc K và Võ Nguyên Bảo K1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với Nguyễn Quốc N2 có hành vi giúp Võ Văn C nhận tiền chuyển khoản từ T nhưng N2 không biết số tiền đó do C và Thanh T phạm tội mà có nên không xử lý
[7]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tuyên bố bị cáo Võ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn C 05 (năm) tháng 01 (một) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/4/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ 09 ngày (từ ngày 11/4/2024 đến ngày 20/4/2024).
Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Võ Văn C ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 585, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Võ Văn C bồi thường cho anh Phạm Hà Quốc K số tiền 10.791.000₫ (mười triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn đồng)
Kể từ ngày anh Phạm Hà Quốc K có đơn yêu cầu thi hành án về phần bồi thường dân sự, nếu bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án đối với số tiền phải bồi thường thì bị cáo phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 486 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 539.550 đ (năm trăm ba mươi chín nghìn năm trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |
Bản án số 501/2024/HSST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 501/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn C phạm tội trộm cắp tài sản
