Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 501/2024/HNGĐ-ST
Ngày 14 – 8 – 2024
V/v ly hôn Xuyên – Việt

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đặng Văn Tác và ông Nguyễn Văn Ngân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2024/TLST- HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 399/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Cẩm X, sinh năm 1999; địa chỉ: số E, hẻm B, Chu Văn A, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật Sư tỉnh A (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1985; địa chỉ: số G C, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; hiện nay đang chấp hành án tại trại giam P1 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện ngày 26/4/2024 và lời khai của nguyên đơn chị Phạm Thị Cẩm X trình bày:

Sau khi tìm hiểu nhau về tình cảm được khoảng 6 tháng, đến năm 2018 chị X với anh V tự sống chung như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 01/8/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do anh V chơi bời, vợ chồng cự cãi rồi ly thân nhau. Sau đó chị X được biết anh V bị Công an bắt giữ về tội mua bán trái phép chất ma tuý và hiện đang chấp hành án tại Trại giam P1, huyện T, tỉnh Tiền Giang cho tới nay.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Ngọc V1, sinh ngày 09/02/2019. Khi ly hôn, chị X yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai của bị đơn Nguyễn Quốc V trình bày:

Về hôn nhân anh V đồng ý ly hôn với chị X.

Về con chung đồng ý giao con chung là Nguyễn Phạm Ngọc V1 cho chị X, anh V không cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Tại bài phát biểu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm ngày 13/8/2024 tại tòa án nhân dân huyện Phú Tân của luật sư Quách Thanh P trình bày:

Chị X yêu cầu ly hôn, qua bản tự khai anh V đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị X. Về con chung chị X và anh V thống nhất có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm Ngọc V1, sinh ngày 09/02/2019. Chị X yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng. Anh V đồng ý để chị X tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh V không cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung chị X không yêu cầu giải quyết.

Từ những ý kiến trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55,khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình, tuyên xử:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Pham Thị Cẩm X1 với anh Nguyễn Quốc V. Giao cháu Nguyễn Phạm Ngọc V1, sinh ngày 09/02/2019 cho chị X1 tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Pham Thị Cẩm X1 với anh Nguyễn Quốc V. Giao cháu Nguyễn Phạm Ngọc V1, sinh ngày 09/02/2019 cho chị X1 tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ: do Đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị X1 và anh V phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị X1 và anh V tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123 do Ủy ban nhân dân thị trấn P cấp ngày 01/8/2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống anh chị thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay. Xét thấy, anh chị vi phạm nghĩa vụ vợ chồng phải yêu thương, quan tâm và chung sống với nhau được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị X1 yêu cầu ly hôn anh V đồng ý nhưng anh V vắng mặt khi hoà giải và xét xử nên Toà án không ban hành quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa anh chị mà đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 3 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Cẩm X với anh Nguyễn Quốc V.

[2.2] Về nuôi con chung:

Chị X và anh V có một con chung tên Nguyễn Phạm Ngọc V1, sinh ngày 09/02/2019. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay chị X là người trực tiếp nuôi con và anh V đồng ý giao cháu V1 cho chị X nuôi dưỡng nên chị X được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Phạm Ngọc V1.

Chị X không yêu cầu anh V cấp dưỡng, anh V cũng có ý kiến không cấp dưỡng cho con, nên anh V không phải cấp dưỡng cho con.

[2.3] Về tài sản chung: Đương sự trình bày không có tài sản chung nên không xem xét giải quyết.

[2.4]Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị X và anh V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân gia đình: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Cẩm X với anh Nguyễn Quốc V.
  2. Về con chung: Chị Phạm Thị Cẩm X được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Phạm Ngọc V1, sinh ngày 09/02/2019. Anh Nguyễn Quốc V không phải cấp dưỡng cho con.

    Chị X và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh V đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

    Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không
  4. Về nợ: Ghi nhận chị X và anh V trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
  5. Về án phí: Chị X phải chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006902 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, chị X2 được nhận lại 225.000 đồng. Anh V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 75.000 đồng.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân
  • - UBND thị trấn Phú Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Rỡ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 501/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn xuyên – việt

  • Số bản án: 501/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn Xuyên – Việt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger