Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 501/2024/HS-ST

Ngày: 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Chi
  2. Ông Nguyễn Cửu Long

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lữ Ngọc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 405/2024/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6818/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2024 ngày 05/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Trần Vô K; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/01/1994; Nơi sinh: tỉnh Khánh Hòa; Nơi thường trú: 11.09 Lô A, chung cư G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 11.09 Lô A, chung cư G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Lê Văn T, sinh năm: 1966; Mẹ: Trần Đình Đào Thu N, sinh năm: 1968; Anh chị em: Có 01 người em, sinh năm 2002; Vợ: Nguyễn Ngọc T1, sinh năm: 1995; Con: Có 01 người con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/5/2010, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 tháng 02 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 92/2010/HSST. Bị cáo được trả tự do ngay tại phiên tòa. Đã nộp án phí theo quy định; Ngày 03/11/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 149/2011/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí theo quy định; Ngày 26/9/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 120/2016/HSST. Ngày 19/9/2018 chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/02/2024 cho đến

nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Trần K1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
    Địa chỉ: 1 đường I, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1999 (vắng mặt)
    Địa chỉ: 1 đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Anh Trần Hải N1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
    Địa chỉ: F Ú, khu dân cư G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người làm chứng:

  1. Anh Phạm Minh Đ, sinh năm 1999 (vắng mặt)
    Địa chỉ: 1 H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chị Tống Thị Thảo V, sinh năm 2005 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Căn hộ D đường T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trần K1 và Lê Trần Vô K có quen biết nhau từ trước. Do cần tiền làm ăn nên khoảng tháng 2 năm 2022, Nguyễn Trần K1 có hỏi vay tiền của Lê Trần Vô K thì K đồng ý cho anh K1 vay số tiền 140.000.000 đồng, thời hạn vay là 03 tháng với lãi suất 15%/tháng, mỗi tháng K1 phải trả cho K số tiền lãi là 21.000.000 đồng. Sau khi hai bên thống nhất thì K chuyển vào tài khoản cho K1 số tiền là 126.000.000 đồng, còn 14.000.000 đồng Kỵ trừ tiền lãi của nửa tháng đầu tiên. Tuy nhiên đến hạn thì K1 không đóng đủ tiền lãi nên xin K cho trả dần tiền lãi thì K đồng ý. Đến tháng 11 năm 2022 thì K1 mới trả xong số tiền lãi như thỏa thuận cho K. Như vậy, số tiền K cho anh K1 vay là 140.000.000 đồng, số tiền anh K1 đã trả cho K là 63.000.000 đồng, trong đó tiền gốc chưa trả, tiền lãi là 63.000.000 đồng/03 tháng (đã bao gồm số tiền 14.000.000 đồng Kỵ đã trừ trước đó), tương đương với mức lãi suất 15%/tháng, gấp 09 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền K đã thu lợi hợp pháp là 7.000.000 đồng, thu lợi bất chính là 56.000.000 đồng.

Đến tháng 12 năm 2022, anh K1 còn nợ của Kỵ 140.000.000 đồng tiền gốc, anh K1 xin K cho trả dần thì K đồng ý và không thu thêm tiền lãi. K1 trả dần cho K tiền gốc đến tháng 7 năm 2023 thì trả cho K được 40.000.000 đồng, còn nợ 100.000.000 đồng. Thời điểm này do anh Nguyễn Hoàng S, là bạn của anh K1 cũng đang nợ K1 số tiền 100.000.000 đồng nên K1 đã thỏa thuận và cùng thống nhất giữa K1, S, K là chuyển số tiền mà K1 đang nợ K sang cho S. S có trách nhiệm trả số tiền 100.000.000 đồng cho K và giữa K1 với S, giữa K1 với K không còn nợ tiền nhau nữa.

Ngoài ra, từ tháng 5 năm 2023, Lê Trần Vô K cũng đã cho Nguyễn Hoàng S vay tiền 04 lần với hình thức vay trả lãi đứng (có nghĩa là người vay chỉ trả tiền lãi hằng ngày hoặc theo định kỳ, tiền gốc giữ nguyên đến khi nào trả được tiền gốc thì tất toán khoản vay), cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 05/5/2023, K cho anh S vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng (gấp 06 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), vào ngày 05 hàng tháng, anh S phải trả cho K số tiền lãi là 1.000.000 đồng. Tính đến ngày 17/12/2023 (thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn) anh S phải trả cho K tổng cộng 07 tháng tiền lãi, tuy nhiên anh S mới trả cho K được 06 tháng tiền lãi với số tiền 6.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc. Số tiền K thu lợi hợp pháp là 1.166.667 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.833.333 đồng, trong đó thực tế K đã thu được 4.999.999 đồng tiền thu lợi bất chính.

Lần thứ hai: Ngày 10/7/2023, K cho anh S vay 10.000.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng (gấp 06 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), vào ngày 10 hàng tháng, anh S phải trả cho K số tiền lãi là 1.000.000 đồng. Tính đến ngày 17/12/2023, anh S phải trả cho K tổng cộng 05 tháng tiền lãi, tuy nhiên anh S mới trả cho K được 04 tháng tiền lãi với số tiền 4.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc. Số tiền K thu lợi hợp pháp là 833.333 đồng đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.166.667 đồng, trong đó thực tế K đã thu được 3.333.333 đồng tiền thu lợi bất chính.

Lần thứ ba: Ngày 03/9/2023, do chuyển nợ từ K1 sang S nên S nợ Kỵ 100.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận S phải trả góp không lãi suất số tiền này cho K trong vòng 10 tháng, mỗi tháng trả 10.000.000 đồng. Do không có tiền trả nên S vay tiếp của Kỵ 10.000.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng (gấp 06 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), vào ngày 03 hàng tháng S phải trả cho K số tiền lãi là 1.000.000 đồng. Tính đến ngày 17/12/2023, anh S phải trả cho K tổng cộng 03 tháng tiền lãi, tuy nhiên, anh S mới trả cho K được 02 tháng tiền lãi với số tiền 2.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc. Số tiền K thu lợi hợp pháp là 500.000 đồng đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.500.000 đồng, trong đó thực tế K đã thu được 1.666.666 đồng tiền thu lợi bất chính.

Lần thứ tư: Ngày 20/10/2023, đến hạn trả khoản tiền góp hàng tháng cho K đối với số tiền vay mà K1 chuyển sang, nhưng S không có tiền trả nên S vay tiếp của K số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng (gấp 06 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), vào ngày 20 hàng tháng S phải trả cho K số tiền lãi là 1.000.000 đồng. Tính đến ngày 17/12/2023, anh S phải trả cho K 01 tháng tiền lãi và anh S đã trả cho K được 01 tháng tiền lãi với số tiền 1.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc. Số tiền K đã thu lợi hợp pháp là 166.667 đồng, đã thu lợi bất chính là 833.333 đồng.

Ngày 17/12/2023, đã quá thời hạn S phải đóng lãi cho K đối với 04 dây vay lãi đứng nêu trên, nên K yêu cầu S trả lãi cho K. Do không còn khả năng trả tiền lãi cho K nữa nên S hẹn K đến quán C, địa chỉ khu đất trống đường X, khu dân cư G, khu phố F, phường P, thành phố T để nói chuyện xin gia hạn thời hạn đóng lãi nhưng khi gọi cho K thì S nói K là hẹn gặp để trả tiền cho K. Khoảng 15 giờ ngày 17/12/2023, S đi cùng bạn là Phạm Minh Đ đến quán cà phê để chờ gặp K.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì K đến quán cà phê để gặp S. Tới nơi hẹn, K thấy S đi cùng một người bạn và nói chưa có tiền trả cho K. Do S trước đó nhiều lần khất hẹn, lần này S hẹn ra trả tiền nhưng lại tiếp tục không trả nên K bực tức dùng tay, chân đánh đấm liên tục vào người và đầu của S. Sau đó K thấy quán đông người nên nói S lên xe K chở đến nơi khác nói chuyện thì S đồng ý và bản thân S cũng muốn gặp riêng K để thỏa thuận, giải quyết nợ nần giữa hai người nên S lên xe mô tô để K chở đi. K chở S đến quán C1, địa chỉ F đường Ú, khu dân cư G, phường P, thành phố T. Tại đây K tiếp tục đánh S và dùng một cái bàn bằng kim loại hình chữ nhật gấp lại phang vào người S nhưng S dùng tay đỡ được. Kỵ yêu cầu S phải đưa ra hướng giải quyết việc nợ nần giữa hai người. Sau đó S tự đề ra phương án là sẽ về nhà mượn tiền trả cho K trong hôm nay thì K đồng ý để S tự về nhà. Sau đó S bắt xe G và về nơi làm việc của K1 tại địa chỉ số G đường F, khu phố B, phường H, thành phố T và cùng K1, Đ đến Công an phường P trình báo sự việc.

Tuy nhiên đến ngày 20/12/2023, anh Nguyễn Hoàng S tự nguyện viết đơn xin rút đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Lê Trần Vô K và từ chối giám định thương tích.

Như vậy, tính đến ngày 17/12/2023, thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn hành vi cho vay lãi nặng, anh S còn nợ của K 70.000.000 đồng tiền chuyển nợ từ Khôi, 40.000.000 đồng tiền gốc S vay trả lãi đứng và tiền lãi tháng 12 của 04 dây lãi đứng. Tổng số tiền Lê Trần Vô K đã thu lợi bất chính đối với các khoản cho vay nêu trên là 66.833.331 đồng, trong đó tổng số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự của Lê Trần Vô K là 68.500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lê Trần Vô K khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro thu giữ của Lê Trần Vô K, K sử dụng để gọi điện, liên lạc với K1 và S yêu cầu trả lãi hàng tháng.

Về thỏa thuận dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc, Lê Trần Vô K đã đền bù tiền thuốc men, tổn thất tinh thần cho Nguyễn Hoàng S. Ngoài ra Lê Trần Vô K và Nguyễn Hoàng S cùng thỏa thuận thống nhất Kỵ xóa khoản nợ mà S còn nợ của K, S và K1 không yêu cầu K phải trả lại số tiền thu lợi bất chính cho S và K1.

Cáo trạng số 399/CT-VKSTPTĐ ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Lê Trần Vô K về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Trần Vô K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Trần Vô K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 201;

điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trần Vô K từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ 5% thu nhập để sung quỹ nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Trần Vô K, Nguyễn Hoàng S và Nguyễn Trần K1 không yêu cầu nên không xem xét.

Bị cáo Lê Trần Vô K không tranh luận và bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Trần Vô K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án có đủ căn cứ xác định: Từ tháng 02/2022 đến tháng 12/2023, Lê Trần Vô K đã thực hiện hành vi cho anh Nguyễn Trần K1 và anh Nguyễn Hoàng S vay tiền với lãi suất cao từ 120%/tháng đến 180%/tháng, cao gấp 06 đến 09 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền Lê Trần Vô K đã thu lợi bất chính đối với các khoản cho vay nêu trên là 66.833.331 đồng, trong đó tổng số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự của Lê Trần Vô K là 68.500.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Trần Vô K đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Lê Trần Vô K đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân. Bị cáo K đã lợi dụng nhu cầu vay tiền để giải quyết các nhu cầu cấp bách phục vụ đời sống nhưng những người

này lại không có đủ điều kiện vay tiền của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng của Nhà nước để cho vay với mức lãi suất vượt gấp nhiều lần quy định, thu lợi bất chính số tiền lớn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Trần Vô K có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích phạm tội là nhằm thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng.

[5] Về nhân thân: Bị cáo K có nhân thân xấu từng bị Tòa án xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và tội Cố ý gây thương tích”.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Trần Vô K không có tình tiết tăng nặng.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[8] Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.

Xét bị cáo Lê Trần Vô K phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, nguồn thu nhập không ổn định nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và khấu trừ một phần thu nhận để sung quỹ nhà nước cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro thu giữ của Lê Trần Vô K, K sử dụng điện thoại trên vào mục đích phạm tội nên căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[11] Xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:

[11.1] Đối với số tiền gốc 140.000.000 đồng mà bị cáo Lê Trần Vô K cho Nguyễn Trần K1 vay (trong đó K1 đã trả cho K 40.000.000 đồng tiền gốc, 100.000.000 đồng còn lại K1 chuyển khoản nợ này cho anh Nguyễn Hoàng S và được anh S đồng ý) và số tiền gốc 40.000.000 đồng mà K cho S vay 04 lần và chưa trả lại cho K. Căn cứ vào Điều 47; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì số tiền gốc trên bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Do đó buộc Nguyễn Hoàng S nộp lại số tiền 140.000.000 đồng và Lê Trần Vô K nộp lại 40.000.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[11.2] Đối với số tiền lãi 9.666.667 đồng tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo K đã thu của người vay. Căn cứ vào Điều 47; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì số tiền lãi này bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Do đó buộc K phải nộp lại số tiền 9.666.667 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[11.3] Đối với số tiền lãi 66.833.331 đồng (khoản tiền lãi vượt mức quy định của Bộ luật Dân sự) là số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo K đã thu. Căn cứ vào Điều 47, Điều 48, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì trả lại cho người vay. Tuy nhiên giữa K và S và K1 có thỏa thuận là không buộc K phải trả lại cho S và K1 số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận và không buộc bị cáo K trả lại số tiền trên cho K1 và S.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Lê Trần Vô K, Nguyễn Hoàng S và Nguyễn Trần K1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Trần Vô K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

2. Áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • Xử phạt bị cáo Lê Trần Vô K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án hoặc bản sao bản án.
  • Giao Lê Trần Vô K cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục. Gia đình Lê Trần Vô K có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục Lê Trần Vô K.
  • Trong thời gian chấp hành án, Lê Trần Vô K phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ 5% thu nhập để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng.
  • Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro.

(Theo Phiếu nhập kho số NK 24/375C ngày 18/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

Buộc bị cáo Lê Trần Vô K nộp lại số tiền 49.666.667 đồng (bốn mươi chín triệu, sáu trăm sáu mươi sáu ngàn, sáu trăm sáu bảy đồng) và anh Nguyễn Hoàng S nộp lại số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng chẵn) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Trần Vô K chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - VKSNDTP.HCM;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Hương

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 501/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 501/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Trần Vô K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger