Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 501/2024/HS-PT

Ngày 24-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương

Các Thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh

Bà Nguyễn Thị Thuý Hoà

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 279/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 517/2024/QĐXXPT-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Vương Vy Q

(tên gọi khác: Q râu), sinh năm 1989 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: A C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Dược sĩ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không (tại tòa bị cáo khai tôn giáo: Thiên chúa); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Q1 và bà Trần Thị N; có vợ Huỳnh Thị Tú D và 02 con sinh năm 2016 và năm 2019; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam ngày 12/06/2022 (có mặt tại phiên toà).

  • - Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Anh T – Công ty L và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
  • - Người kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Vương Vy Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vương Vy Q.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác gồm: Phạm Ngọc B, Phạm Bích N1, Nguyễn Hoàng M, Diệp Bảo P nhưng không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lúc 17 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, Cơ quan Điều tra kiểm tra và phát hiện xe ô tô biển số 51D 49925 đi từ hướng Long An về Thành phố Hồ Chí Minh do Đoàn Minh T1 điều khiển, chở Phạm Bích N1 và 12 thùng carton chứa 20.000 vỉ (loại 10 viên/vỉ) tân dược (thuốc) ghi tên nhãn hiệu Neo-Codion. N1 khai số hàng này là của N1 sản xuất và không xuất trình được hóa đơn, chứng từ, nên Cơ quan Điều tra đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Phạm Bích N1 về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. Kết quả điều tra thể hiện:

Công ty Cổ phần D2, địa chỉ 279A1, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An (sau đây viết tắt là Công ty D2), do Nguyễn Thị Kim D1 làm Giám đốc đại diện theo pháp luật, Phạm Ngọc B làm Chủ tịch hội đồng quản trị, góp 97,14% vốn điều lệ, Lê Huỳnh M1, Phạm Bích N1 cùng sở hữu 1,43% vốn điều lệ nhưng thực tế không có việc các cá nhân góp vốn, công ty do Phạm Ngọc B quản lý và điều hành.

Nhận thấy, sau dịch bệnh Covid-19 nhu cầu về thuốc trị ho, đặc biệt là tân dược nhãn hiệu Neo-Codion do P1 sản xuất rất lớn, Phạm Ngọc B và Phạm Bích N1 (em của N1) nảy sinh ý định sử dụng viên thực phẩm chức năng nhãn hiệu Neo Terpodin do Công ty D2 sản xuất để làm giả thuốc tân dược nhãn hiệu Neo-Codion nhằm mục đích bán kiếm lời.

Thực hiện ý định, B chỉ đạo Lê Huỳnh M1 (Trưởng phòng kế hoạch sản xuất Công ty D2) và các bộ phận có liên quan của Công ty D2 sản xuất 986.000 viên thực phẩm chức năng Neo Terpodin giao cho N1 sản xuất thuốc tân dược giả nhãn hiệu Neo-C. Để hợp thức hóa việc xuất kho 986.000 viên thực phẩm chức năng Neo Terpodin, B và N1 chỉ đạo bộ phận kế toán lập khống các phiếu xuất kho, hóa đơn giá trị gia tăng bán hàng cho Nguyễn Thị Kim P2 và Nguyễn Thị Thu T2. Bích thuê nhà tại địa chỉ 315 Quốc lộ A, ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An và đưa tiền cho N1 mua máy ép vỉ thuốc để N1 sản xuất thuốc tân dược giả tại đây. N1 thuê Nguyễn Hoàng M (nhân viên điều khiển máy ép vỉ thuốc của Công ty D2) cùng N1 vận hành máy ép vỉ sản xuất thuốc tân dược Neo-Codion giả. Đồng thời, gửi mẫu vỏ hộp, nhãn phụ, hướng dẫn sử dụng cho Diệp Bảo P để in giả theo mẫu và mua trên mạng các vỉ nhựa, màng nhôm đã in sẵn chữ N2-C để sản xuất.

Ngày 09/06/2022, sau khi sản xuất được hơn 20.000 vỉ thuốc giả nhãn hiệu Neo-C, N1 thuê Đoàn Minh T1 lái xe tô tô biển kiểm soát 51D- 499.25 chở N1 đến nơi sản xuất để vận chuyển 20.000 vỉ thuốc nêu trên giao cho Nguyễn Vương Vy Q tại địa chỉ: nhà không số, đường D, Tổ A, ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi vận chuyển đến Thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, thì bị kiểm tra phát hiện và lập biên bản như nêu trên.

  • Kết quả khám xét khẩn cấp nơi sản xuất thuốc tân dược giả tại địa chỉ 315 Quốc lộ A, Ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An: Cơ quan điều tra phát hiện và tạm giữ 2.700 vỉ thuốc tân dược thành phẩm giả ghi tên N2-Codion; 679 lọ đựng 679.000 viên thuốc nguyên liệu, 06 cuộn màng nhôm đã in sẵn tên thuốc Neo-Codion, 01 máy ép vỉ. Tất cả được sử dụng để sản xuất thuốc Neo-Codion giả;
  • Kết quả khám xét khẩn cấp tại Công ty D2: Cơ quan điều tra thu giữ Phiếu xuất kho số BH004/06/22 ngày 06/06/2022 xuất 986.000 viên N3; hóa đơn giá trị gia tăng số 00000261 ngày 07/06/2022 bán 496.000 viên Neo Terpodin C/1000 viên cho Nguyễn Thị Kim P2; hóa đơn giá trị gia tăng số 00000260 ngày 07/06/2022 bán 490.000 viên Neo Terpodin C/1000 viên cho Nguyễn Thị Thu T2; 10 CPU máy tính đã qua sử dụng; 02 máy tính xách tay đã qua sử dụng.
  • Kết quả khám xét khẩn cấp nhà của Nguyễn Vương Vy Q tại nhà không số, đường D, Tổ A, Ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan điều tra tạm giữ: 42 vỉ thuốc thành phẩm giả nhãn hiệu Neo-Codion; 30.000 vỏ hộp thuốc giả Neo-Codion bằng tiếng Anh, 50.000 tờ hướng dẫn sử dụng thuốc Neo-Codion bằng tiếng Việt, 60.000 nhãn phụ cho thuốc Neo-Codion bằng tiếng Việt. Q khai toàn bộ số thuốc, vỏ hộp, nhãn phụ, toa thuốc nêu trên đều được mua từ Phạm Bích N1.
  • Kết quả khám xét khẩn cấp nơi Diệp B sản xuất vỏ hộp, nhãn phụ, tờ hướng dẫn sử dụng thuốc tại địa chỉ 1 P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh: Cơ quan điều tra tạm giữ 1.000 tờ nhãn (tem) phụ thuốc Neo-Codion bằng tiếng Việt (mỗi tờ có 72 nhãn phụ), 01 bản kẽm dùng để in nhãn phụ thuốc Neo-Codion bằng tiếng Việt; 02 CPU máy tính đã qua sử dụng; 01 thẻ nhớ camera; 01 máy in bản kẽm khổ lớn, đã qua sử dụng (không rõ nguồn gốc xuất xứ, chưa kiểm tra kỹ thuật bên trong) dùng để in nhãn phụ, hướng dẫn sử dụng, vỏ hộp N2-Codion giả. P khai sản xuất theo đặt hàng của Phạm Bích N1.

* Kết quả xác minh:

  • Kết quả xác minh tại Cục Q2 Bộ Y: Tân dược nhãn hiệu Neo-Codion do B1 (địa chỉ: G, Avenue du Général de G P- F) sản xuất là thuốc chữa bệnh, dùng để điều trị triệu chứng ho khan do kích thích ở người lớn. Sản phẩm N2-Codion đã được Cục Q2 cấp giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam.

Sản phẩm ghi tên NEO-TERPODIN được sản xuất bởi Công ty cổ phần D2 (MST: 1101742602, địa chỉ: B, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An) là thực phẩm bảo vệ sức khỏe, có công dụng hỗ trợ điều trị triệu chứng ho. Sản phẩm có giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố của Cục A thực phẩm Bộ Y.

  • Kết quả xác minh tại Công ty cổ phần D3: tân dược nhãn hiệu Neo-Codion được Cục Q2 cấp giấy phép lưu hành số VN- 18966-15, Công ty D3 (Pháp) là đơn vị đăng ký lưu hành thuốc Neo-Codion tại Việt Nam. Công ty cổ phần D3 là đơn vị nhập khẩu thuốc Neo-Codion. Công ty cổ phần D3 không ký hợp đồng gia công vỏ hộp, tem, nhãn phụ, toa thuốc với cá nhân Diệp Bảo Phước hoặc Công ty TNHH T3.
  • Kết quả trích xuất dữ liệu từ thẻ nhớ camera, CPU máy tính thu giữ khi khám xét khẩn cấp đối với Diệp Bảo P tại Công ty TNHH T3 (địa chỉ: 1 P, phường T, quận T): trên CPU có lưu trữ file dữ liệu "H.Neo- Codion 2022.cdf”. Diệp Bảo P khai, file hình ảnh được P sử dụng để in bao bì vỏ hộp thuốc tân dược N2-Codion giả và cung cấp cho Phạm Bích N1 (thường gọi là Q).

Dữ liệu trong thẻ nhớ camera thể hiện: lúc 18 giờ ngày 07/06/2022 xưởng có chạy in mẫu hộp Neo-C. P khai, các mẫu hộp được in theo yêu cầu đặt hàng của Phạm Bích N1.

* Kết quả ghi lời khai bị cáo và những người liên quan:

  1. Bị cáo Phạm Bích N1 khai: nhận thấy nhu cầu tân dược thương hiệu N2-Codion lớn, nên N1 nảy sinh ý định sử dụng viên thực phẩm chức năng Neo Terpodin do Công ty D2 sản xuất có giá thành thấp để đóng vào vỉ, hộp thuốc giả thương hiệu N2-Codion có giá trị cao bán kiếm lời. N1 nói với anh trai Phạm Ngọc B là cần mua các viên thực phẩm chức năng chưa vô hộp của công ty để xuất bán qua Campuchia và được B đồng ý. Ngày 07/06/2022, N1 liên hệ với Lê Huỳnh M1 (nhân viên Công ty D2) nhận 986.000 viên thực phẩm chức năng Neo Terpodin C/1000 viên (quy cách đóng gói 1.000 viên/chai) do Công ty D2 sản xuất, nhưng chưa dán nhãn hiệu, với giá 90.000.000đ, N1 chưa thanh toán tiền hàng cho B. Trước khi lấy hàng ra khỏi công ty, N1 liên hệ với bộ phận kế toán, để lập phiếu xuất kho và hóa đơn giá trị gia tăng, N1 cung cấp thông tin người mua hàng là Nguyễn Thị Kim P2, Nguyễn Thị Thu T2 cho bộ phận kế toán.
  2. Để phục vụ việc sản xuất thuốc giả nhãn hiệu Neo-C, N1 mua màng nhôm có in sẵn dòng chữ N2-Codion từ Campuchia (không rõ tên, địa chỉ người bán hàng) và mua vỉ nhựa trôi nổi ngoài thị trường (không nhớ tên, địa chỉ người bán hàng). Đồng thời, liên hệ với Diệp Bảo P (làm việc tại xưởng in của Công ty TNHH T3), để đặt sản xuất vỏ hộp, hướng dẫn sử dụng, nhãn phụ của thuốc tân dược hiệu Neo- Codion với giá từ 700- 800đ/bộ (01 bộ gồm có vỏ hộp, nhãn phụ, hướng dẫn sử dụng). P đã giao cho N1 03 đợt với số lượng 120.000 bộ có tổng giá trị khoảng 86.000.000đ, nhưng N1 mới thanh toán cho P đợt 1 và 2 tổng số tiền 51.000.000đ, còn đợt 03 số tiền 35.000.000đ N1 chưa thanh toán. Mẫu vỏ hộp, toa, nhãn phụ do một đối tượng bên Campuchia cung cấp và yêu cầu làm theo, N1 đã giao mẫu cho Diệp Bảo P in ấn.
  3. Số viên thực phẩm chức năng nhận từ Công ty D2, N1 đem về địa chỉ thuê tại số C Quốc lộ A, ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An để cùng Nguyễn Hoàng M sản xuất thuốc Neo-Codion giả. Cách thức sản xuất thuốc giả như sau: N1 cùng M bỏ các viên thực phẩm chức năng vào các vỉ nhựa trên máy, sau đó máy sẽ chạy và ép các màng nhôm có in sẵn dòng chữ N2-Codion lên vỉ nhựa để tạo ra vỉ thành phẩm tân dược giả nhãn hiệu Neo-C.
  4. Số thuốc giả này, N1 bán cho Nguyễn Vương Vy Q (tên thường gọi là Quý râu) theo đặt hàng của Q, nhưng không đóng vỉ thuốc thành phẩm vào hộp mà giao riêng vỏ hộp, nhãn phụ, hướng dẫn sử dụng trước, sau đó giao các vỉ thuốc sau để Q tự đóng hộp. Ngày 09/06/2022, sau khi sản xuất được hơn 20.000 vỉ thuốc tân dược giả nhãn hiệu Neo-C, N1 thuê Đoàn Minh T1 lái xe chở N1 cùng số thuốc giả này đem giao cho Nguyễn Vương Vy Q, trên đường đi thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ như nêu trên.
  5. Bị cáo Phạm Ngọc B khai: Bích là người chỉ đạo Lê Huỳnh M1 lập kế hoạch sản xuất 1.000.000 viên thực phẩm chức năng Neo Terpodin để giao cho
  1. Phạm Bích N1. Sau khi sản xuất xong, M1 giao cho N1 số lượng 1.000 chai (quy cách đóng gói 1000 viên/chai), thuốc không dán tem, nhãn hiệu; B là người thuê căn nhà tại địa chỉ C Quốc Lộ A, ấp G, N, T, Long An của Lê Mỹ H từ năm 2019 với giá 10.000.000đ cho N1 sử dụng; là người cho N1 tiền để mua máy ép vỉ dùng sản xuất thuốc, bản thân N1 không được phép sản xuất thuốc tân dược nên B biết N1 sử dụng máy này để sản xuất thuốc giả bán kiếm lời. Tuy nhiên, B không biết N1 bán cho ai, sản xuất loại thuốc giả gì; B khai đã bán cho N1 03 lần khoảng 2.000.000 viên thực phẩm chức năng Neo Terpodin, nhưng không biết N1 sử dụng để sản xuất thuốc tân dược giả. Việc mua bán không có hợp đồng, N1 thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp cho B, không nộp vào công ty.

Bích biết việc Công ty D2 xuất bán 986.000 viên thực phẩm chức năng chưa thành phẩm vào ngày 07/06/2022 là sai theo quy định tại Nghị định số 43/2017/NĐ- CP ngày 14/04/2017 của Chính phủ. Vì vậy, trên phiếu xuất kho, hóa đơn giá trị gia tăng vẫn phải ghi đầy đủ tên hàng hóa là Neo Terpodin thành phẩm, nhằm hợp thức hóa hồ sơ, chứng từ theo quy định. Về việc hàng xuất bán cho N1, nhưng trên hóa đơn giá trị gia tăng lại ghi tên người mua hàng là Nguyễn Thị Thu T2 và Nguyễn Thị Kim P2 thì B không lý giải được.

  1. Bị cáo Nguyễn Hoàng M khai: M là công nhân tại Công ty D2 từ khoảng năm 2015 đến nay, công việc là điều khiển máy ép vỉ thuốc. Ngoài công việc tại công ty, M còn thường xuyên tham gia sản xuất thuốc tân dược giả cùng với B từ năm 2015, trung bình từ 01- 02 tháng sẽ sản xuất thuốc giả một lần, M không nhớ số lượng, tên loại thuốc, không biết N1 tiêu thụ ở đâu. Ngày 09/06/2022 M tham gia sản xuất thuốc giả tại căn nhà địa chỉ số C Quốc lộ A, ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An theo sự chỉ đạo của N1. M cùng với N1 sản xuất nhiều loại thuốc tân dược giả nhưng không nhớ nhãn hiệu cụ thể. N1 là người trực tiếp chỉ đạo M đến địa chỉ trên để sản xuất loại thuốc tân dược giả Neo-C. Khi có yêu cầu sản xuất thuốc giả từ N1, thì M thực hiện công đoạn bỏ thuốc viên lên khay của máy ép vỉ, lùa viên thuốc nguyên liệu xuống các vỉ nhựa và máy ép cho đều, M trực tiếp điều chỉnh máy ép vỉ chạy ra vỉ thuốc thành phẩm. Mỗi lần thuê M đến sản xuất thuốc tân dược giả, B trả cho M từ 2.000.000₫ - 4.000.000đ bằng tiền mặt, M không nhớ tổng tiền công là bao nhiêu. Ngày 09/06/2022, N1 điện thoại yêu cầu M đến địa chỉ số C Quốc lộ A, ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An để sản xuất thuốc tân dược giả. M và N1 sản xuất từ 09 giờ sáng đến 16 giờ chiều được 20.000 vỉ thuốc tân dược nhãn hiệu Neo- Codion, toàn bộ số thuốc này được N1 đóng vào 12 thùng giấy carton và mang đi tiêu thụ và bị bắt giữ như đã nêu trên. M biết B và N1 bỏ tiền ra mua máy ép vỉ, B trực tiếp thuê kho, N1 trực tiếp trả tiền thuê. Trong một số lần N1 gọi điện thoại cho M đến sản xuất thuốc giả thì N1 đều nhắc đến Bích với nội dung “anh B bảo M đến địa chỉ số C Quốc lộ A, ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An để ép vỉ thuốc”.
  2. Bị cáo Diệp Bảo P khai: P làm việc tại xưởng in của Công ty TNHH T3 do Lê Âu Thụy Thục H1 (vợ P) làm giám đốc. Khoảng tháng 03/2019, có người đàn ông tự xưng là Q (về sau làm việc với Cơ quan điều tra P biết tên thật là Phạm Bích N1) gọi điện cho P để đặt in vỏ hộp, toa hướng dẫn sử dụng, nhãn phụ cho thuốc
  1. tân dược có tên N2-Codion, đơn giá 700- 800đ/bộ (gồm có vỏ hộp, toa, nhãn phụ). Khi đặt in, N1 nói dùng để sản xuất thuốc bán qua Campuchia, N1 không cung cấp hợp đồng gia công với nhà sản xuất chính hãng và đặt in nhãn phụ N2-Codion nên P biết đặt in vỏ hộp, hướng dẫn sử dụng, nhãn phụ để sản xuất thuốc tân dược giả nhãn hiệu Neo-C.

P đã giao cho N1 tổng cộng 03 đợt với số lượng 120.000 bộ với tổng số tiền là 86.000.000đ. Sau khi in đủ số lượng, P gọi điện báo, N1 sẽ cho nhân viên (không rõ họ tên, địa chỉ) đến nhận hàng tại kho và thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp cho P.

Kết quả nhận dạng: Phước nhận dạng được Q là Phạm Bích N1.

  1. Bị cáo Nguyễn Vương Vy Q khai: ngày 09/06/2022, Q đặt mua của Phạm Bích N1 số lượng 30.000 hộp thuốc tân dược giả nhãn hiệu Neo-Codion, đơn giá 27.000đ/hộp, tiền thanh toán được Q trừ vào số tiền 350.000.000đ Ngọc ứng trước. N1 vận chuyển thuốc giao cho Q tại nhà số A D, xã X, huyện H. N1 giao riêng vỏ hộp nhãn hiệu Neo- Codion trước, giao các vỉ thuốc sau để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Thuốc mua của N1, Q chào bán trên mạng internet, Q cũng bán riêng vỏ hộp và vỉ thuốc, Q khai người mua cũng biết thuốc giả nên không yêu cầu Q đóng vỉ thuốc vào hộp. Số hàng mua của N1, nếu bán hết Q thu lợi từ 300.000.000đ đến 400.000.000đ. Q đã đặt mua hàng của N1 khoảng từ 03- 04 lần, mỗi lần khoảng 30.000 hộp thuốc Neo-Codion, nhưng Q không nhớ số lượng thực tế N1 đã giao, không nhớ chính xác số tiền đã hưởng lợi.
  2. Đoàn Minh T1 khai: T1 là lái xe riêng của Phạm Ngọc B, lúc 07 giờ 30 phút ngày 09/06/2022, T1 được N1 thuê điều khiển xe ô tô biển số 50D- 499.25 chở hàng từ địa chỉ số C Quốc lộ A, ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An đi Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi nhận hàng, Trường thấy Minh đang chỉnh máy ép vỉ thuốc, Ngọc đang đang dán thùng giấy, nhưng Trường không biết là thuốc gì và không biết là thuốc giả. Ngọc đưa 12 thùng carton lên xe và hướng dẫn Trường chở Ngọc cùng với 12 thùng hàng đi về Thành phố Hồ Chí Minh, khi vừa đến vòng xoay Nguyễn Văn Linh thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ. Khi bị công an bắt, Ngọc bỏ chạy còn Trường vẫn ngồi trên xe vì Trường không biết việc Ngọc sản xuất, buôn bán thuốc giả. Mỗi lần thuê đi chở hàng, Ngọc trả cho Trường là 300.000đ. Từ trước đến nay Trường không tham gia sản xuất, buôn bán thuốc tân dược giả.
  3. Lê Huỳnh Mộng khai: Mộng là trưởng phòng kế hoạch sản xuất của Công ty Amtex Pharma. Cuối tháng 05/2022, Mộng được Chủ tịch Phạm Ngọc Bích chỉ đạo lên kế hoạch sản xuất 1.000.000 viên thực phẩm chức năng Neo Terpodin. Ban đầu Mộng không biết sản xuất để giao cho ai, chỉ khi sản xuất đủ số lượng, Bích mới chỉ đạo làm thủ tục giao cho Ngọc (tên thường gọi là Quý, em ruột của Bích). Ngày 06/06/2022, Mộng làm phiếu xuất kho và chuyển thông tin đến bộ phận kế toán xuất hóa đơn giá trị gia tăng để xuất 986.000.000 viên thực phẩm chức năng (không dán nhãn hiệu, không có thông tin phiếu kiểm định thuốc kèm theo, được đóng gói 1.000 viên/chai) cho Ngọc. Theo chỉ đạo của Bích, Mộng lên kế hoạch sản xuất và làm thủ tục giao cho Ngọc khoảng 04 lần, mỗi lần khoảng
  1. 50 thùng (tương đương 1.000.000 viên) thực phẩm chức năng, không dán tem, nhãn hiệu (quy cách: 20 chai/thùng, 1.000 viên/chai).

Mộng biết viên thực phẩm chức năng chưa dán dán tem, nhãn, nên chưa đủ điều kiện để lưu hành trên thị trường. Do đó để hợp thức hóa hồ sơ chứng từ, thì trên phiếu xuất kho và hóa đơn phải ghi là 986.000 viên thực phẩm chức năng NEO- TERPODIN C/1000V. Theo chỉ đạo của Ngọc, Mộng thông báo cho bộ phận kế toán biết người mua hàng là khách lẻ không nói cụ thể là ai, sau đó bộ phận kế toán tự lập hóa đơn, ghi người mua hàng là Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Kim Phượng. Mộng không nghe Bích và Ngọc nói về việc mua bán viên thực phẩm chức năng, cũng không nhìn thấy hợp đồng mua bán. Mộng đồng thời là thủ quỹ công ty, theo dõi dòng tiền và xác định Ngọc chưa nộp tiền thanh toán hàng hóa cho công ty. Mộng không biết Ngọc sử dụng 986.000.000 viên thực phẩm chức năng nêu trên để sản xuất thuốc tân dược giả.

  1. Lê Phú Cường khai: căn nhà tại địa chỉ 315 Quốc lộ 1A, ấp 7, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An là của gia đình ông Cường cho Phạm Ngọc Bích thuê với giá 10.000.000đ/tháng. Lê Mỹ Hạnh (con gái ông Cường) là người trực tiếp thỏa thuận cho Bích thuê. Nhà cho thuê có cửa, lối đi, chìa khóa riêng nên ông Cường không biết việc Bích sản xuất thuốc tân dược giả.
  2. Lê Mỹ Hạnh khai: Hạnh quen Phạm Ngọc Bích nên đại diện gia đình cho Bích thuê căn nhà số 315 Quốc lộ 1A, ấp 7, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Sau khi cho thuê, Hạnh thấy em trai của Bích là Ngọc đến căn nhà này nhưng Hạnh không biết Ngọc làm việc gì tại đây.
  3. Huỳnh Thị Thúy Hoa (kế toán Công ty Amtex Pharma) khai: ngày 07/06/2022, bộ phận kế toán có làm thủ tục xuất bán 490.000 viên thực phẩm chức năng NEO-TERPODIN C/1000V cho Nguyễn Thị Thu Thủy (địa chỉ: Gian hàng J20, TTTM Quận 10, 134/1 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10) và 490.000 viên thực phẩm chức năng NEO- TERPODIN C/1000V cho Nguyễn Thị Kim Phượng (địa chỉ: Gian hàng J22, TTTM Quận 10, 134/1 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10). Người trực tiếp làm thủ tục xuất hóa đơn điện tử là kế toán viên Phạm Thị Ngọc Duyên. Hoa không biết ai cung cấp thông tin về người mua hàng, tên hàng, số lượng, trị giá hàng cho Duyên.
  4. Phạm Thị Ngọc Duyên (kế toán Công ty Amtex Pharma) khai: Duyên là người trực tiếp lập Phiếu xuất kho số BH004/06/22 ngày 06/06/2022 về việc xuất 986.000 viên Neo Terpodin, hóa đơn giá trị gia tăng số 00000261 ngày 07/06/2022 về việc bán 496.000 viên Neo Terpodin cho bà Nguyễn Thị Kim Phượng và hóa đơn giá trị gia tăng số 00000260 ngày 07/06/2022 về việc bán 490.000 viên Neo Terpodin cho bà Nguyễn Thị Thu Thủy. Lê Huỳnh Mộng nói là xuất hàng cho khách hàng lẻ, sau đó Phạm Bích Ngọc (cổ đông của công ty) cung cấp thông tin về tên khách hàng, số lượng, địa chỉ của người mua hàng. Duyên không biết Nguyễn Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Thu Thủy là ai.

Kết luận giám định số 4184/KL- KTHS ngày 06/09/2022 của Phân viện khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: chữ trên các vỉ thuốc thành

phẩm, bao bì của các vỏ hộp trên các mẫu cần giám định, so với mẫu so sánh là không được in ra từ cùng bản in; các nhãn phụ thuốc Neo-Codion bằng tiếng Việt thu giữ tại Công ty TNHH thương mại in bao bì Huy Đức được in từ bản kẽm thu giữ của Công ty này.

Kết luận định giá tài sản số 5191/KL- HĐĐGTS ngày 04/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự Thành phố Hồ Chí Minh xác định: 22.742 vỉ thuốc tân dược thành phẩm giả nhãn hiệu Neo-Codion tạm giữ có trị giá tương đương với số lượng hàng thật là 815.756.000 đồng (đơn giá 35.870đ/vỉ).

Kết luận số 460/VKNT- KHTH, ngày 05/09/2022, Viện kiểm nghiệm thuốc Thành phố Hồ Chí Minh: hàm lượng, thành phần hóa học của mẫu thuốc cần giám định không đúng với tiêu chuẩn cơ sở đã được Cục Quản lý dược phê duyệt của sản phẩm Viên bao đường Neo-Codion.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 382/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc Bích, Phạm Bích Ngọc, Nguyễn Vương Vy Quý về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”; các bị cáo Nguyễn Hoàng Minh, Diệp Bảo Phước về tội “Sản xuất hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”.

  • Căn cứ điểm a khoản 3, khoản 5 Điều 194; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Vương Vy Quý 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/06/2022.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Ngày 18/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý.

Ngày 22/3/2024, bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý xin rút kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Bị cáo Vương Vy Quý rút kháng cáo tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo. Bản thân Quý là dược sĩ, biết hậu quả của thuốc giả. Tòa án sơ thẩm xử phạt tuyên phạt bị cáo 6 năm tù là có phần nhẹ. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo từ 8-9 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin rút kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo của bị cáo đình

chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

  1. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là hợp lệ, trong hạn luật định nên được xét xử phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Quý xin rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo Quý là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận.

* Về nội dung:

  1. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý khai nhận:

Ngày 09/06/2022, Quý đặt mua của Phạm Bích Ngọc số lượng 30.000 hộp thuốc tân dược giả nhãn hiệu Neo-Codion, đơn giá 27.000đ/hộp, tiền thanh toán được Quý trừ vào số tiền 350.000.000đ Ngọc ứng trước. Ngọc vận chuyển thuốc giao cho Quý tại nhà số 13/01 Dương Công Khi, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Ngọc giao riêng vỏ hộp nhãn hiệu Neo- Codion trước, giao các vỉ thuốc sau để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Quý đã đặt mua hàng của Ngọc khoảng từ 03- 04 lần, mỗi lần khoảng 30.000 hộp thuốc Neo-Codion, nhưng bị cáo chưa thu lợi được.

  1. Xét, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của các đồng phạm khác, phù hợp với kết luận giám định và vật chứng thu giữ được. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  2. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến công tác quản lý của nhà nước về thuốc chữa bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe và mất cơ hội được tiếp cận với thuốc chữa bệnh thật của người bệnh, gây phản ứng bất bình cho xã hội. Nhưng tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 năm tù là có phần nhẹ, chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, do đó kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.
  3. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tăng hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
  4. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị

cáo là có căn cứ. Còn nội dung Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tăng hình phạt đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

  1. Về án phí: Do bị cáo rút kháng cáo nên bị cáo không phải chịu.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điểm a khoản 2 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý.
  2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 382/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”.

Căn cứ điểm a khoản 3, khoản 5 Điều 194; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Vương Vy Quý 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/06/2022.

  1. Án phí phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Vương Vy Quý không phải chịu.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Trại tạm giam CA TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VT, ĐTTB (18b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 501/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh

  • Số bản án: 501/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Vương Vy Q phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger