Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀI NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 501/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29-11-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Hữu Bằng và ông Trương Hồng Thủy.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ba - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đình - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 431/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 334/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu phố T, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
  • - Bị đơn: Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Nguyễn Đức N trình bày:

Anh và chị H tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B ngày 08/02/2022. Sau kết hôn vợ chồng vào S làm ăn sinh sống được 01 năm thì chị H về quê ở cùng cha mẹ vợ còn anh vẫn ở lại S. Trong thời gian chung sống, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh và chị H đã sống ly thân từ tháng 02/2024 cho đến nay và kể từ đó không ai quan tâm gì đến ai. Nay anh thấy vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu được ly hôn. Anh và chị H có hai con chung là cháu Nguyễn Đức K, sinh ngày 08/10/2021 và cháu Nguyễn Đức K1, sinh ngày 06/7/2023. Sau ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo các lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Trần Thị Thanh H trình bày:

Chị và anh N tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B ngày 08/02/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng vào S làm ăn sinh sống được 01 năm thì chị về quê ở cùng cha mẹ ruột còn anh N vẫn ở lại S. Trong thời gian chung sống mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh N không quan tâm chăm lo cho gia đình để một mình chị lo hết từ việc sinh đẻ đến chăm con. Vì không chịu đựng được nên chị đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 02/2024 cho đến nay và kể từ đó vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị thấy vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý ly hôn. Chị và anh N có hai con chung là cháu Nguyễn Đức K, sinh ngày 08/10/2021 và cháu Nguyễn Đức K1, sinh ngày 06/7/2023. Sau ly hôn chị không đồng ý giao con cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng vì con còn quá nhỏ, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con như từ bấy lâu nay và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có, kihông yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết: Chấp nhận yêu cầu của anh N được ly hôn chị H. Về nuôi con chung sau ly hôn, giao cả hai con chung là cháu Nguyễn Đức K, sinh ngày 08/10/2021 và cháu Nguyễn Đức K1, sinh ngày 06/7/2023 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí dân sự sơ thẩm, anh N phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tổ tụng:

Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị H có nơi cư trú tại khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định, do đó Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1] Anh N và chị H tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B ngày 08/02/2022 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, rồi tự sống ly thân từ tháng 02/2024 cho đến nay và kể từ đó vợ chồng sống xa cách nhau, không ai quan tâm gì đến ai, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh N được ly hôn chị H là có căn cứ và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Anh N và chị H có hai con chung là cháu Nguyễn Đức K, sinh ngày 08/10/2021 và cháu Nguyễn Đức K1, sinh ngày 06/7/2023. Sau ly hôn vợ chồng không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, anh N và chị H đều yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu K vừa mới 37 tháng tuổi, cháu K1 vừa mới 16 tháng tuổi, từ trước cho đến nay chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, hiện tại cả hai cháu còn quá nhỏ và đang được nuôi dưỡng ổn định. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như không làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng đến tâm lý của hai cháu, cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giải quyết giao cả cháu K và cháu K1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng như từ bấy lâu nay và ghi nhận tự nguyện nuôi con của chị H không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 và 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình sung vào công quỹ Nhà nước là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[5] Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 56, khoản 2 và khoản 3 Điều 81, Điều 82, 83, 84, của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức N được ly hôn chị Trần Thị Thanh H.
  • - Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Đức K, sinh ngày 08/10/2021 và cháu Nguyễn Đức K1, sinh ngày 06/7/2023 cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu anh Nguyễn Đức N phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đức N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình sung vào công quỹ Nhà nước.

Anh N đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0006837 ngày 28/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, được tính trừ.

- Về kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoài Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn;
  • - UBND phường Bồng Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 501/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 501/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger