Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 500/2024/HS-ST

Ngày 18 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng

Ông Trần Công Danh

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 524/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 512/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị C, sinh năm 1990 tại tỉnh Cà Mau

Nơi thường trú: tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1961 (Chết) và bà Phan Thị S1, sinh năm 1962; bị cáo có chồng là Đỗ Thành T, sinh năm 1984 và 02 con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án: Ngày 14 tháng 9 năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 470/2023/HS-ST.

Tiền sự: không;

Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam X.

Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

+ Bà Mai Thị M, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

+ Bà Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: A, tổ I, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Quốc D, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị C là đối tượng có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù theo Bản án số 470/2023/HS-ST ngày 14/9/2023), C đang trong thời gian chờ chấp hành án lại tiếp tục thực hiện 03 vụ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 13 giờ ngày 21/11/2023, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Atila biển số 60B4-188.02, đi từ nhà trọ tại phường T, thành phố B đến phường T, thành phố B tìm kiếm các cửa hàng buôn bán tạp hóa, quần áo mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày C đến một cửa hàng bán quần áo không tên trên đường P, tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B do chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, ngụ tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai làm chủ. Chăm vào cửa hàng chọn mua được 21 bộ quần áo trẻ em, 01 áo khoác trẻ em và 01 áo người lớn, tổng số tiền phải thanh toán là 1.880.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng). C nói với chị H là C đang cần tiền mặt và đề nghị chị H cung cấp số tài khoản cá nhân để Chăm chuyển khoản 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho chị H, trừ đi số tiền mua hàng 1.880.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng), số tiền còn lại 4.120.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) chị H đưa trực tiếp cho C thì được chị H đồng ý. Chị H đưa số tài khoản “8850366743” ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Thị H thì C nhập số tài khoản trên vào ứng dụng ví điện tử momo trên điện thoại của C và thực hiện thao tác chuyển tiền, thực tế trong tài khoản ví momo của C không còn tiền nhưng trên màn hình điện thoại của C vẫn hiện lên “thanh toán an toàn”, số tiền chuyển khoản là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và tên người nhận là Nguyễn Thị H, C đưa điện thoại cho chị H xem và nói là đã thực hiện giao dịch chuyển khoản thành công. Để chị H tin tưởng, C nói tiền qua chậm và đưa điện thoại cho chị H chụp lại hình ảnh giao dịch trên điện thoại của C, cung cấp số điện thoại của C cho chị H. Tin tưởng C đã chuyển tiền cho mình nên chị H đã giao số quần áo Chăm mua cùng 4.120.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) tiền mặt cho C. Số quần áo chiếm đoạt được Chăm để ở nhà mẹ chồng là bà Võ Thị L, sinh năm 1964 và phòng trọ em trai Nguyễn Văn N, sinh năm 1996, tại tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, tài khoản của chị H vẫn không nhận được tiền, nên điện thoại liên lạc với C nhưng không liên lạc được. Biết bị lừa nên chị H đến Công an phường T, thành phố B trình báo sự việc.

Lời khai bị can C (Bút lục 100-109);

Lời khai bị hại (Bút lục 47-54)

Lời khai người làm chứng (Bút lục 124)

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Atila biển số: 60B4 188.02, số máy: VMVUAAD009340, số khung: RLGK11ADAD009340, Nguyễn Thị C sử dụng làm phương tiện đi phạm tội là tải sản của anh Lê Quốc D, sinh năm 1984 ngụ tại tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (sống với C như vợ chồng) Anh D không biết C mượn xe sử dụng vào mục đích phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh D (Bút lục 138); 01 điện thoại di động nhãn hiệu S2 J7 Pro, số I 1: 356446084429914, số Imeil 2: 356447084429912, sử dụng sim số 0967397450 là tài sản của C sử dụng vào việc phạm tội. Chuyển xử lý cùng vụ án. (Bút lục 138,140); 21 (Hai mươi mốt) bộ đồ trẻ em, 01 (Một) áo khoác trẻ em, 01 (Một) áo người lớn bị C chiếm đoạt là tài sản của chị Nguyễn Thị H. Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho chị H (Bút lục 16, 20, 55, 149); Số tiền 4.120.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) chiếm đoạt của chị H, C đã tiêu xài cá nhân hết; 01 (Một) USB ghi hình ảnh Chăm tại cửa hàng quần áo của chị Nguyễn Thị H, lưu cùng hồ sơ vụ án (Bút lục 133,134).

Kết luận định giá tài sản số 643/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “21 (Hai mươi mốt) bộ quần áo trẻ em, 01 (Một) áo khoác trẻ em và 01 (Một) áo khoác người lớn, có tổng trị giá 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng)” (Bút lục 20).

Về dân sự: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu C bồi thường số tiền 4.120.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng), hiện Chăm chưa bồi thường (Bút lục 52, 161).

Vụ thứ 2:

Khoảng 23 giờ ngày 22/11/2023, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision gắn biển số 88F3-8990 (Biển số thật của xe là 60F1-400.98 đến quán tạp hoá của chị Mai Thị M, sinh năm 1994, tại tổ F, khu phố L, phường T, thành phố B mua 02 lốc nước bò húc, 05 gói thuốc lá Basto, 01 hũ kẹo bông, 01 hũ kẹo con gấu, 03 bịch bánh tráng sữa, 03 kính đeo mắt, 03 bịch bánh pía hết tổng số tiền phải thanh toán là 1.725.000 đồng (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Chăm thanh toán 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng) tiền mặt cho chị M, số tiền còn lại là 1.685.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng) C nói không có tiền mặt và đề nghị chuyển khoản thì chị M đồng ý và đưa mã QR cho C quét. Chăm giả vờ đưa màn hình điện thoại của C cho chị M xem lệnh “giao dịch thành công”, nhưng do chưa thấy tài khoản của mình nhận được tiền nên chị M không giao hàng và yêu cầu xem lịch sử giao dịch thì C lấy lý do bạn trai của C đã đổi mật khẩu “momo” nên không truy cập được vào tài khoản. Chị M yêu cầu C gửi lại xe và hàng hóa khi nào có tiền thì đến lấy. Sau đó, C gọi điện cho anh Lê Quốc D đến thanh toán tiền cho chị M và chở C đi về. Đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 23/11/2023, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Atila biển số 60B4- 188.02 đến nhưng do không có tiền trả cho chị M nên nói chị M cho đổi xe của C để về trả lại cho người khác do xe C đi là xe mượn. Chị M đồng ý cho đổi xe, D và C đi về. Sau đó, do nghi ngờ C lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên chị M đến Công an phường T trình báo sự việc.

Lời khai bị can C (Bút lục 100-109); Lời khai người bị hại (Bút lục 64-69); Lời khai người làm chứng (Bút lục 117-118)

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số: 60F1:400.98 số máy: JF33E0542959, số khung: RLHJF3314DY462769, là tài sản của ông Lê Văn C1 sinh năm 1941, ngụ tại tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B (Cha ruột của Lê Quốc D). Ông C1 không biết C mượn xe sử dụng đi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho ông C1 (Bút Lục 141,142,145); 01 biển số xe 88F3 – 8990. Đây là biển số đăng ký xe do anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1978, ngụ tại: thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên, xe đã bán cho người khác không rõ lai lịch. Anh Lê Quốc D đã mua chiếc xe gắn biển số 88F3 – 8990 từ người không rõ lai lịch, sau đó bán xe ve chai và giữ biển số. Khi C mượn xe mô tô biển số 60F1- 400.98 Chăm đã tự ý tháo biển số xe 60F1- 400.98 và thay bằng biển số 88F3 – 8990. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã chuyển biển số 88F3-8990 đến phòng C2 Công an tỉnh V để quản lý (Bút lục 141,143,121).

Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “02 lốc (Hai) lốc nước bò húc Redbull, 05 (Năm) gói thuốc lá Basto đỏ, 01 (Một) hũ kẹo bông, 01 (Một) hũ kẹo con gấu, 03 (Ba) bịch bánh tráng sữa, tổng trị giá 585.000 đồng (Năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Đối với 03 (Ba) mắt kính và 03 (Ba) bịch bánh pía không rõ nhãn hiệu, chủng loại nên không đủ cơ sở định giá (Bút lục 24).

Về dân sự: Chị Mai Thị M không yêu cầu C bồi thường (Bút lục 67,161).

Vụ thứ 3:

Khoảng 21 giờ ngày 23/11/2023, C tiếp tục mượn xe mô tô nhãn hiệu Vision gắn biển số 88F3-8990 của ông Lê Văn C1 nói đi công việc. Sau đó, C điều khiển xe đi tìm kiếm các tiệm tạp hoá mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi C đi đến tiệm T1 tại khu phố T, phường P, thành phố B do chị Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1968 làm chủ, C đi vào giả vờ hỏi mua 02 thùng bia Heniken, 01 thùng bia Tiger, 10 hộp cá Mòi Ba Cô, 25 hộp sữa chua Yakult, 20 hộp sữa TH, 01 đồ chơi trẻ em loại xe xúc bằng nhựa và 01 card điện thoại 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) với tổng số tiền 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng). C nói với chị P con của C bị gãy chân đang cần tiền mà không có tiền mặt, C chuyển khoản cho chị P 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), trừ đi số tiền mua hàng 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng), chi P đưa tiền mặt cho C 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), còn lại 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) Chăm gửi chị P phí rút tiền thì được chị P đồng ý. Chị P đưa số tài khoản 5911205349254, ngân hàng A, mang tên Nguyễn Hoàng P thì C nhập số tài khoản trên vào ứng dụng ví điện tử momo trên điện thoại của C và thực hiện thao tác chuyển tiền, thực tế trong tài khoản ví momo của C không còn tiền nhưng sau khi màn hình điện thoại của C hiện lên “giao dịch thành công”, số tiền chuyển 10 khoản là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và tên người nhận là Nguyễn Hoàng P, C đưa điện thoại cho chị P xem nói đã thực hiện giao dịch chuyển khoản thành công, Chị P đưa cho C 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) tiền mặt thì C cầm tiền và chở số hàng hoá đã chiếm đoạt ở trên đi về. Sau đó C mang 02 (hai) thùng bia hiệu Heneiken, 01 (một) thùng bia hiệu Tiger về phòng trọ em trai là Nguyễn Văn N để gửi nhờ. 01 (một) card điện thoại Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), C đã nạp vào điện thoại và sử dụng hết. 01(Một) đồ chơi trẻ em C đưa cho cháu Đỗ Hoàng Thiên B, sinh năm 2011 (con của chăm) chơi. Trên đường về nhà anh D, C làm rơi 10 (Mười) hộp cá mòi Ba cô, 25 (Hai mươi Lăm) hộp sữa chua yakult và 20 (Hai mươi) hộp sữa tươi TH, số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) chiếm đoạt được Chăm đã trả nợ cho người bạn không rõ lai lịch.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, C nhờ anh Lê Quốc D chở đến tiệm tạp hoá chị Mai Thị M để trả số tiền mua hàng 1.685.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng) cho chị M để lấy hàng và xe Atila biển số 60B4-188.02 thì chị M báo Công an phường T, thành phố B đưa C về trụ sở làm việc, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị C khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên.

Lời khai bị can Chăm (Bút lục 100-109); 89-93);

Lời khai người bị hại (Bút lục Lời khai người làm chứng (Bút lục 117-123)

Vật chứng vụ án: 02 (hai) thùng bia hiệu Heneiken, 01 (một) thùng bia hiệu Tiger là Tài sản của chị Nguyễn Hoàng P, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho chị P (Bút lục 146,150); 10 (mười) hộp cá mòi Ba cô, 25 (Hai mươi lăm) hộp sữa chua yakult, 20 (Hai mươi) hộp sữa tươi TH Chăm làm rơi, cơ quan điều tra không thu hồi được (Bút lục 112-113); 01 (một) bộ đồ chơi trẻ em không thu hồi được, không rõ nhãn hiệu, nguồn gốc xuất xứ nên không đủ cơ sở định giá (Bút lục 26). Kết luận định giá tài sản số 12/KL – HĐĐGTS ngày 09/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 02 (Hai) thùng bia Heniken xanh, 01 (một) thùng bia Tiger bạc, 10 (mười) hộp cá mồi Ba cô, 25 (hai mươi lăm) hộp sữa chua Yakult, 20 (hai mươi) hộp sữa tươi TH, tổng trị giá 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng)” (Bút lục 24-27).

Tại bản Cáo trạng số: 513/CT-VKSBH ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thị C về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C từ 18 đến 22 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584 Bộ luật dân sự, đề nghị Tòa án tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thị C bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Hoàng P theo quy định. Đối với các bị hại khác không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Tòa án tịch thu sung công 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu đen, số Imei 1: 356446084429914, số Imei 2: 356447084429912, đã qua sử dụng là công cụ Chăm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình tranh tụng: bị cáo Nguyễn Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy bị cáo và bị hại Vũ Thị H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, các bị hại khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án và đã trình bày rõ nội dung yêu cầu; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 21/11/2023 đến 23/11/2023, Nguyễn Thị C đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 21/11/2023, tại cửa hàng quần áo trên đường P, tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị C có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H 21 (Hai mươi mốt) bộ quần áo trẻ em, 01 (Một) áo khoác trẻ em, 01 (Một) áo người lớn tổng trị giá: 1.880.000 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) và số tiền 4.120.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 22/11/2023, tại quán tạp hóa, thuộc tổ F, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng nai, Nguyễn Thị C có hành vi lừa đảo của chị Mai Thị M 02 lốc nước bò húc, 05 gói thuốc lá Basto, 01 hũ kẹo bông, 01 hũ kẹo con gấu, 03 bịch bánh tráng sữa, 03 kính đeo mắt, 03 bịch bánh pía tổng trị giá 585.000 đồng (Năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) nhưng bị chị M phát hiện nên chưa chiếm đoạt được. Vụ thứ ba: Khoảng 21 giờ ngày 23/11/2023, tại quán T2 tổ I, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị C có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Hoàng P 02 (Hai) thùng bia Heniken, 01 (Một) thùng bia Tiger, 10 (Mười) hộp cá mòi Ba cô, 25 (Hai mươi lăm) hộp sữa chua Yakult, 20 (Hai mươi) hộp sữa tươi TH, 01 (Một) bộ đồ chơi trẻ em, 01 (Một) card điện thoại mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Có tổng trị giá 1.820.000 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) và số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng giá trị tài sản và tiền bị cáo Nguyễn Thị C chiếm đoạt của 03 vụ là 12.405.000 đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị C đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ tư lợi nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản 03 lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Ngày 14 tháng 9 năm 2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 470/2023/HS-ST, bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về tổng hợp hình phạt chưa chấp hành:

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thị C bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 470/2023/HS-ST. Ngày 24/11/2023 bị cáo chấp hành án phạt tù, nên đến ngày xét xử (18/9/2024) bị cáo đã chấp hành được 09 (chín) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày, do đó thời hạn bị cáo chưa chấp hành của bản án số 470/2023/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa là 08 (chín) tháng 05 (năm) ngày tù. Đối chiếu với khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự.

[6] Về các tình tiết liên quan vụ án:

Đối với anh Lê Quốc D cho C mượn xe nhưng không biết C sử dụng xe đi phạm tội nên không có căn cứ xử lý hình sự.

Đối với anh Nguyễn Văn N cho C gửi tài sản lừa đảo có được tại nhà trọ nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.

[7] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu đen, số Imei 1: 356446084429914, số Imei 2: 356447084429912, đã qua sử dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại bà Nguyễn Hoàng P yêu cầu bị cáo bồi thường 5.900.000 đồng, bà Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.120.000 đồng, bà Mai Thị M không yêu cầu gì. Tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.120.000 đồng và tại đơn xin xét xử vắng mặt bị cáo Nguyễn Thị C đồng ý bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoàng P 5.900.000 đồng theo quy định. Xét đây là sự tự nguyện giữa bị cáo và bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với các bị hại bà Nguyễn Thị H và bà Mai Thị M không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là tương đối phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt còn lại 08 (chín) tháng 05 (năm) ngày tù của Bản án số 470/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm 08 (chín) tháng 05 (năm) ngày tù. Thời hạn tù tính từ 19/9/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại bà Nguyễn Hoàng P và bị cáo Nguyễn Thị C. Buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Hoàng P số tiền là 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu đen, số Imei 1: 356446084429914, số Imei 2: 356447084429912, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên đã được giao nhận theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/8/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa và Công an thành phố B).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 500/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 500/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger