|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 500/2025/HS-PT Ngày 09/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh
Các thẩm phán: Bà Đinh Thị Thu Hường
Ông Phạm Năng Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Phong – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 415/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 406/2025/QĐXXPT-HS ngày 15/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 30/2025/HSST-QĐ ngày 27/5/2025 đối với các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ, Trần Việt A1 do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HSST ngày 31/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, TP Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
1. TRẦN TUẤN A, sinh ngày 06/6/2007 (17 tuổi 06 tháng 17 ngày); Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K và con bà Nguyễn Thị N; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 07/10/2024, bị Công an huyện Ứ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.200.000 đồng về hành vi điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe không gắn biển số, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe có dung tích xi lanh từ 50cm³ trở lên. Nhân thân: Ngày 09/01/2023, bị Công an huyện Ứ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, hình thức phạt cảnh cáo. Ngày 08/01/2025, bị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xử phạt 22 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 27/12/2024 tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H đến nay (Vắng mặt)
2. NGUYỄN ĐỨC C, sinh ngày 17/6/2006;
Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã P, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí D và con bà Nguyễn Thị D1; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh. (có mặt)
3. BÙI HỒNG ĐẠI, sinh ngày 26/7/2004;
Nơi ĐKHKTT: phố H, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn H và con bà Nguyễn Thị T1; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh. (có mặt)
4. TRẦN VIỆT A1, sinh ngày 27/7/2007 (17 tuổi 04 tháng 26 ngày);
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H1 và con bà Nguyễn Thị N1; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Trần Tuấn A, Trần Việt A1: Luật sư Nguyễn Văn T2 – Văn phòng L1 ( Có mặt).
Người đại diện cho bị cáo Trần Tuấn A: Ông Trần Văn K, SN 1982/ bà Nguyễn Thị N, SN 1981; Cư trú: Thôn C, xã T, huyện Ứ, TP . ( Vắng mặt)
Người đại diện cho bị cáo Trần Việt A1: Ông Trần Văn H1, SN 1983/bà Nguyễn Thị N1, SN 1984 (bà N1 có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn bị cáo không kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng nghị nên tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 23/12/2024, Trần Tuấn A (sinh ngày 06/6/2007 điều khiến xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát: 60F1-925.45 chở Nguyễn Hồng Thiên V (sinh ngày 12/11/2010) đi chơi, khi đến cầu Q, xã T, huyện Ứ, V xuống dệ đường gần thành cầu nhặt một ống tuýp sắt rồi cùng nhau đi đến nhà của Nguyễn Hữu Gia B (sinh ngày 02/12/2009) trú tại thôn Đ, xã P, huyện Ứ. Tại đây, gặp Nguyễn Quang T3 (sinh ngày 07/6/2007) Bùi Hồng Đ, Lưu Văn Đ1 (sinh ngày 15/11/2009), Trần Việt A1, Nguyễn Đức C. Thấy vậy, Tuấn A rủ mọi
người chuẩn bị hung khí để đi lượn đường, thì tất cả đồng ý và qua nhà rủ Nguyễn Bòng C1 (sinh ngày 19/11/2007).
Các đối tượng sử dụng hung khí và phương tiện như sau:
Xe 1: Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát: 60F1-925.45 chở V (cầm một tuýp sắt và một gậy tre) + B (cầm một gậy cây lau nhà bằng kim loại (phần cán chổi)
Xe 2: Đại điều khiến xe Honda Wave màu xanh tím than biển kiểm soát: 29Y3-786.65 chở C1 (cầm một gậy tre)
Xe 3: Việt A1 điều khiển xe Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 29AB-735.38 chở T3.
Xe 4: Nguyễn Bòng C1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vario màu đen không gắn biển kiểm soát chở Đ1 (cầm một gậy tre)
Các hung khí mang theo là do trên đường đi Đ1 và Vương nhặt ở đường hai gậy kim loại là phần cán của chổi lau nhà, V, T3 và C1 nhặt ba gậy bằng tre. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, các đối tượng mang theo các hung khí di chuyển theo hướng quốc lộ B xuống Trung tâm thương mại - thị trấn V, huyện Ứ, di chuyển nhiều vòng trong khu vực vườn hoa Trung tâm thương mại, Thị trấn V. Quá trình di chuyển với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, rượt đuổi, hò hét, nẹt bô tạo tiếng ồn lớn gây náo loạn, mất an ninh trật tự, Sau đó, V, Đ1, T3 và Đức C mang số hung khí trên vứt ở đệ đường thuộc địa phận thôn H, xã P, huyện Ứ, sau đó tất cả đi về.
Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 24/02/2025 của VKSND huyện Ứng Hòa đã truy tố các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Quang T3, Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ, Trần Việt A1, Nguyễn Bòng C1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 của BLHS.
Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HSST ngày 31/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, TP Hà Nội tuyên phạt bị cáo Trần Tuấn A: 24 (hai mươi tư) tháng tù ; Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 08/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Trần Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 46 (bốn mươi sáu) tháng tù; Bị cáo Nguyễn Quang T3 24 (hai mươi tư) tháng tù; Bị cáo Nguyễn Đức C 27 (hai mươi bảy) tháng tù; Bị cáo Bùi Hồng Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù; Bị cáo Trần Việt A1 18 (mười tám) tháng tù; Bị cáo Nguyễn Bòng C1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 8/4/2025 bị cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C có đơn kháng cáo, nội dung đề nghị được giảm hình phạt, xin hưởng án treo.
Ngày 14/4/2025 bị cáo Trần Tuấn A, Trần Việt A1 có đơn kháng cáo, nội dung đề nghị được giảm hình phạt, xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C, Trần Việt A1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội của mình như
bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo Trần Tuấn A vắng mặt và có đơn xin rút đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Tuấn A.
Toà án cấp sơ thẩm kết án đúng người đúng tội. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đức C và Bùi Hồng Đ trình bày thuộc đối tượng gia đình có công ( Ông nội Nguyễn Xuân L được tặng huân huy chương kháng chiến) nhưng không xuất trình được tài liệu.
Xét thấy toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất và hành vi phạm tội là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ, Trần Việt A1. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 332; 333; 334; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về hình thức, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về nội dung; Giữ nguyên bản án số 30/2025/HS-ST ngày 31/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, Thành phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ, Trần Việt A1.
Luật sư Nguyễn Văn T2 - Người bào chữa cho bị cáo Trần Việt A1 không nhất trí với phát biểu giải quyết vụ án của vị đại diện VKS, luật sư cho rằng Trần Việt A1 tham gia với vai trò thứ yếu trong vụ án, là người điều khiển xe chở T3 (xe không mang hung khí), khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi và hiện đang đi học, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đầu thú ngoài ra bị cáo lớn lên trong gia đình bố mẹ ly hôn thiếu sự giáo dục cần thiết, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, và điều 91, 101 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện theo luật định để được cải tạo ngoài xã hội. Đề nghị HĐXX áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo Việt A1 được hưởng án treo để thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi. Đối với bị cáo Trần Tuấn A có đơn xin rút yêu cầu kháng cáo nên nhất trí với đề nghị của đại diện VKS là đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C, Trần Việt A1 là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Lời khai của các bị cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C, Trần Việt A1 tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều khai nhận hành vi
phạm tội. Lời khai của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 23/12/2024, Trần Tuấn A, Nguyễn Quang T3, Nguyễn Đức C, Trần Việt A1, Bùi Hồng Đ, Nguyễn Bòng C1, Nguyễn Hồng Thiên V, Nguyễn Hữu Gia B, Lưu Văn Đ1 đã có hành vi sử dụng xe mô tô, mang theo hung khí nguy hiểm, lạng lách, đánh võng, rượt đuổi, hò hét, nẹt bô tạo tiếng ồn lớn trên đường Q, rồi vào trong vườn hoa trung tâm thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội gây mất an toàn giao thông, mất an ninh trật tự trong khu dân cư, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận, quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo :
Bị cáo Trần Tuấn A xin rút đơn kháng cáo trước ngày mở phiên toà; Các bị cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C, Trần Việt A1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương.
Đối với kháng cáo của Trần Tuấn A, ngày 27/5/2025 bị cáo và người đại diện hợp pháp có đơn xin rút đơn kháng cáo, việc rút đơn kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Tuấn A, quyết định của bản án sơ thẩm đối Trần Tuấn Anh có hiệu lực pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm nhận định các bị cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C, Trần Việt A1 phạm tội với vai trò tích cực ngay từ đầu, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đầu thú, phạm tội lần đầu. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; (Bị cáo Trần Việt A1 áp dụng Điều 90, Điều 91 và Điều 101 BLHS); Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 27 (hai mươi bảy) tháng tù, Bùi Hồng Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù, Trần Việt A1 18 (mười tám) tháng tù là đúng người đúng tội.
Tại cấp phúc thẩm thẩm bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ trình bày thuộc đối tượng gia đình có công (Ông nội Nguyễn Xuân L được tặng huân huy chương kháng chiến) nhưng không xuất trình tài liệu nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ.
Bị cáo Trần Việt A1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đang trong độ tuổi đến trường và tha thiết được tiếp tục đến trường, hiện đang sống cùng gia đình và có nơi cư trú ổn định rõ ràng, việc cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để
giáo dục và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Việt A1, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội về phần hình phạt.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Việt A1, quyết định áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo Trần Việt A1 được hưởng án treo.
[4] Về án phí phúc thẩm:
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C nên các bị cáo cáo Bùi Hồng Đ, Nguyễn Đức C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, do sửa án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Việt A1 nên bị cáo Trần Việt A1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Tuấn A, Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội đối với bị cáo Trần Tuấn A có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HSST ngày 31/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, TP Hà Nội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Hồng Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025.
3. Xử phạt bị cáo Bùi Hồng Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025.
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Việt A1, sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HSST ngày 31/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, TP Hà Nội. cụ thể:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Việt A1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.
4. Xử phạt bị cáo Trần Việt A1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Việt A1 cho UBND xã P, huyện P, TP . giám sát giáo dục trong thời hạn thử thách của bản án.
Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Tuấn A, Trần Việt A1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Đức C2, Bùi Hồng Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
Lưu VP/TA. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Trâm Anh |
Bản án số 500/2025/HS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 500/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hình sự phúc thẩm
