Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 500/2024/HSST
Ngày: 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Chi
  2. Ông Nguyễn Cửu Long

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Lữ Ngọc Mai– Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 365/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 546/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Công N; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/6/1992; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Số B Đường A, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số B Đường A, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: Đại học; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Lê Công T, sinh năm: 1969; Mẹ: Trương Thị Tuyết N1, sinh năm: 1972; Anh chị em: Có 01 người em, sinh năm 1997; Vợ: Nguyễn Thị Bảo T1, sinh năm 1993; Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 27/12/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa:

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: S5.03-11.09 V, số E N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. 0906.333.087.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958 – Luật sư thuộc Văn Phòng L (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Bảo T1, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: 391/51/2 S, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Nguyễn Thị Mỹ T2, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: S205.2703 V, số E N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Bà Lê Quỳnh N3, sinh năm 1995 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: S107.2621 V, số E N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Công ty TNHH D1
  8. Địa chỉ: 7 Đường H, Phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1993 (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Công N và Nguyễn Thị Bảo T1 là vợ chồng nhưng trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn nên ly thân, T1 dọn ra ngoài sống. Khoảng 19 giờ ngày 29/12/2022, khi N với mẹ, em trai và bạn gái N là Trần Võ Yến N4 đang ở nhà tại địa chỉ B đường A, khu phố A, phường T, thành phố T, thì T1 đi cùng với 03 người bạn của T1 là Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Thị Mỹ T2, Lê Quỳnh N3 và cán bộ Công an phường T đến kiểm tra nhà vì T1 trình báo với Công an phường việc N đang sử dụng ma túy tại nhà. Tuy nhiên khi Công an đến kiểm tra thì không phát hiện sự việc như Trân trình báo nên không lập biên bản. Lúc này T1 và nhóm bạn T1 dùng điện thoại quay video lại sự việc nên N nói với T1 và bạn của T1 là không được quay phim thì hai bên xảy ra cãi vã với nhau. Sau đó Công an phường T mời hai bên về trụ sở để giải quyết sự việc. Tại đây, N yêu cầu T1 xóa đoạn video quay tại nhà N nhưng không được chấp nhận. N bực tức, gọi điện cho D (bạn quen biết ngoài xã hội, chưa xác định được lai lịch) để kể lại sự việc nên D cùng với bạn trai D và một người bạn của D tên N5 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đi trên 01 xe mô tô do bạn trai D chở, đến trước cổng Công an phường T chờ N. Sau đó N, T1 và bạn của T1 tự nguyện nói chuyện, giảng hòa với nhau nên đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày hai bên ra về, Công an phường không lập biên bản ghi nhận sự việc.

Khi ra về, Nguyễn Thị Hồng N2 điều khiển xe ôtô hiệu Honda Civic, biển số 51K-363.13, chở Nguyễn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị Bảo T1 và Lê Quỳnh N3, chạy hướng từ Công an phường T, thành phố T về hướng Vinhomes G để về nhà. Thấy vậy, N điều khiển xe mô tô hiệu SH (không rõ biển số) chở Yến N4 còn bạn trai D điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở D và N5, cùng đi theo xe ô tô do Hồng N2 điều khiển. Khi đến trước địa chỉ B đường N, khu phố G, phường L, thành phố T thì bạn trai D chạy xe vượt lên trên, chặn đầu xe ô tô do chị Hồng N2 điều khiển lại. D xuống xe đến đầu xe ô tô ra hiệu, yêu cầu Hồng N2 và nhóm bạn xuống xe nói chuyện nhưng nhóm bạn của Hồng N2 không xuống và khóa cửa xe lại.

Cùng lúc này Lê Công N chở Yến N4 chạy đến, thấy nhóm Hồng N2 không xuống xe nói chuyện nên N bực tức nhặt cục đá xi măng trên lề đường đập một cái vào kính chắn gió phía trước đầu xe ô tô biển số 51K-363.12 làm rạn nứt kính, N tiếp tục dùng cục đá xi măng đập một cái vào kính chắn gió ghế phụ phía trước của xe ô tô biển số 51K-363.12 làm vỡ kính. Yến N4 cũng nhặt một cục đá xi măng rồi ném vào kính chắn gió phía sau (ghế phụ bên phải) làm rạn nứt kính rồi nhặt một cây chổi quét sân ở gần đó, chọc cán chổi vào phía trong xe nơi kính chắn gió ghế phụ phía trước đã bị N đập bể, đánh người phía trong xe nhưng không gây thương tích gì. D nhặt cục đá xi măng mà N quăng xuống đất rồi ném vào bên trong xe ô tô nơi kính chắn gió ghế phụ phía trước đã bị N đập bể làm trầy bao da ghế phụ trước, trầy bao da bọc tay số và trầy xước khay đựng nước của xe ô tô biển số 51K-363.12. Sau đó nhóm N lên xe bỏ đi. Hồng N2 và nhóm bạn đến Công an phường L trình báo vụ việc.

Tại cơ quan Công an, Lê Công N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Bản kết luận định giá tài sản số 55-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 07/4/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận thiệt hại của xe ô tô biển số 51K-363.13 như sau: 01 Kính chắn gió phía trước trị giá 10.133.9000 đồng; 01 Kính chắn gió ghế phụ phía trước trị gái 3.860.530 đồng; 01 Kính chắn gió phía sau (ghế phụ bên phải) trị giá 3.140.300 đồng; 01 vết trầy bao da bọc ghế phụ trước thiệt hại 10.931.630 đồng; 01 vết trầy bao da bọc ghế phụ trước thiệt hại 762.600 đồng; 01 vết trầy vị trí khay đựng nước thiệt hại 297.600 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 30.429.960 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) xe ô tô hiệu Honda Civid biển số 51K-363.13 do Công ty TNHH D1 do chị Nguyễn Thị Hồng N2 là người đại diện theo pháp luật. Ngày 27/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô trên cho chị Nguyễn Thị Hồng N2, là người đại diện theo pháp luật của Công ty.
  • 01 (một) cục bê tông không rõ hình dạng, có kích thước (25x30x5) cm;
  • 01 (một) cục bê tông không rõ hình dạng, có kích thước (12x22x5) cm;
  • 01 (một) cây chổi quét sân.
  • 01 đĩa DVD chứa đoạn video hình ảnh do camera của một phòng khám đa khoa nơi xảy ra vụ việc ghi nhận hình ảnh, diễn biến vụ việc và 01 USB chứa đoạn video clip do bị hại cung cấp, lưu hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị Hồng N2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng tiền sửa chữa xe; tiền thuê xe ô tô để sử dụng trong thời gian tạm giữ xe ô tô biển số 51K-363.13; bồi thường thiệt hại tinh thần, ảnh hưởng công việc của bị hại. Bị cáo và gia đình đã chủ động nộp số tiền 30.429.960 đồng, bằng số tiền định giá tài sản bị thiệt hại cho Cơ quan công an để khắc phục hậu quả cho bị cáo. Hiện số tiền trên đã nộp vào kho bạc nhà nước để Tòa án xử lý.

Cáo trạng số 361/CT-VKSTPTĐ ngày 11/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Công N về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Tại phiên tòa:

Bị hại bà Nguyễn Thị Hồng N2 trình bày: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay về để lo cho con; Về trách nhiệm dân sự thì trước đây bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 300.000.000 đồng gồm chi phí tiền sửa chữa xe; tiền thuê xe ô tô để sử dụng trong thời gian tạm giữ xe ô tô biển số 51K-363.13; bồi thường thiệt hại tinh thần, ảnh hưởng công việc của bị hại tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị hại rút lại một phần yêu cầu chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Công N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đồng ý bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo cũng nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người biết sự việc không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, trại trước địa chỉ số B đường N, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Công N đã cùng với Trần Võ Yến N4 (hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch) và D (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi dùng cục đá xi măng đập, ném vào kính chắn gió phía trước, kính chắn gió ghế phụ phía trước và kính chắn gió phía sau (ghế phụ bên phải) và dùng cán chổi chọc vào bên trong xe ô tô biển số 51K-363.13 do chị Nguyễn Thị Hồng N2 điều khiển làm rạn nứt, vỡ kính xe, trầy bao da bọc ghế phụ trước, trầy vị trí khay đựng nước của xe ô tô biển số 51K-363.13 của Công ty TNHH D1 do chị Nguyễn Thị Hồng N2 là chủ sở hữu và đại diên theo pháp luật của Công ty. Tổng giá trị thiệt hại là 30.429.960 đồng. Hành vi của Lê Công N đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Lê Công N về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Bị cáo Lê Công N biết rõ việc làm hư hỏng tài sản của người khác là sai trái vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của người dân xung quanh. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Công N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động gia đình chủ động nộp số tiền 30.429.960 đồng để khắc phục hậu quả, ngoài ra bị hại cũng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  4. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

  5. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  6. Đối với Trần Võ Yến N4, D, N5 và bạn trai D, đến nay vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch, chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định truy tìm người đối với Trần Võ Yến N4, ra quyết định tách vụ án hình sự ngày 20/6/2024 để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

  7. Xử lý vật chứng:

    Đối với 01 (một) xe ô tô hiệu Honda Civid biển số 51K-363.13 do Công ty TNHH D1 do chị Nguyễn Thị Hồng N2 là người đại diện theo pháp luật. Ngày 27/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô trên cho chị Nguyễn Thị Hồng N2, là người đại diện theo pháp luật của Công ty là có căn cứ.

    Đối với: 01 (một) cục bê tông không rõ hình dạng, có kích thước (25x30x5) cm; 01 (một) cục bê tông không rõ hình dạng, có kích thước (12x22x5) cm; 01 (một) cây chổi quét sân. Xét đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

    01 đĩa DVD chứa đoạn video hình ảnh do camera của một phòng khám đa khoa nơi xảy ra vụ việc ghi nhận hình ảnh, diễn biến vụ việc và 01 USB chứa đoạn video clip do bị hại cung cấp, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

  8. Về trách nhiệm dân sự: Xét trong quá trình điều tra bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng tuy nhiên tại phiên tòa bị hại Nguyễn Thị Hồng N2 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và bị cáo.

  9. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Lê Công N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Lê Công N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cục bê tông không rõ hình dạng, có kích thước (25x30x5) cm; 01 (một) cục bê tông không rõ hình dạng, có kích thước (12x22x5) cm; 01 (một) cây chổi quét sân.

    Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK24/359C ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Công N bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Hồng N2 số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng chẵn). Tiếp tục phong tỏa số tiền 30.429.960 đồng mà gia đình bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả theo phiếu thu số 28 ngày 18/3/2024 của Công an thành phố T và Ủy nhiệm chi số 20 ngày 05/8/2024 của kho bạc Nhà nước đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức để đảm bảo khả năng thi hành án.

    Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do N6 hành Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án trên khoản tiền gốc chưa thi hành án.

  5. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Lê Công N chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng (năm triệu đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSNDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 500/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 500/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Công N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger