TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HSST Ngày: 31/05/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt và ông Đào Huy Dương.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Dịu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị T
sinh năm 2003 tại huyện S, Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: TDP A, thôn Á, phường T, S, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L và bà Trần Thị H; Chồng: không có, Con: có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
Người có QLNVLQ:
Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số F N, phường Q, S, Hà Nội; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị T, có quen biết với Nguyễn Văn C có quen biết nhau vì cả hai đều sử dụng ma túy Ketamine nên C có hỏi T và biết được giá nửa “chỉ” Ketamine là 2.700.000đồng. Khoảng 09 giờ ngày 29/01/2024, C gọi điện thoại cho T để đặt mua nửa “chỉ” ma tuý Ketamine. T đồng ý và nói nếu không có xe thì bắt taxi đi sau Chi trả tiền. Thư điện thoại đến số 0349.361.xxx của một người bán ma túy mà T xin được từ trước đây để hỏi mua nửa “chỉ” ma túy Ketamine giá 1.500.000 đồng và hẹn gặp nhau tại khu vực cánh đồng, ngã tư Đ thuộc thôn P, Đường L, S, Hà Nội. Khi T bắt taxi đến điểm hẹn, T gặp một người nam giới và đưa số tiền 1.500.000 đồng, người này cầm tiền và chỉ cho T ma túy để ở trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, ở chân cột điện gần đấy. T đi đến chỗ chân cột điện Pnhặt vỏ bao thuốc lá chứa gói ma túy, lấy gói ma túy cất vào túi áo khoác phía trước T đang mặc còn vỏ bao thuốc lá T vứt bỏ. Sau khi mua được ma túy, T gọi điện cho C và cùng thống nhất hẹn gặp nhau tại khu vực Ngõ H, đường X, phường X, S, Hà Nội. Khi đến nơi, T thấy C đang đứng ở đầu ngõ H nên T gọi C ra trả 200.000 đồng tiền taxi, rồi T và C cùng nhau đi bộ vào bên trong ngõ 8, đi được một đoạn thì C có hỏi T “của anh hết hai triệu bảy đúng không?”, T gật đầu, đồng thời C lấy 2.700.000 đồng đưa cho T. T cầm số tiền C đưa, rồi lấy gói ma tuý Ketamine từ trong túi áo khoác của T đưa cho C, C cầm gói ma túy ở tay phải thì đúng lúc này có lực lượng Công an phường X phát hiện lúc 11 giờ ngày 29/01/2024 và thu giữ vật chứng gồm:
- 01 túi nilông trong suốt kích thước 1,5x1cm bên trong chứa tinh thể màu trắng thu trên tay phải của Nguyễn Văn C. C khai nhận đây là ma túy “Ke” của C vừa mua được của Trần Thị T với giá 2.700.000 đồng.
- Số tiền 2.700.000 đồng thu trên tay của Trần Thị T.
- 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen; IMEI: 359279049580217 của T.
- 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen; IMEI: 353070597708221 của T.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen; IMEI: 357698105135862 của C.
- 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Thị T.
Tại bản kết luận giám định số: 1304/KLGÐ - PC09 ngày 05/02/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,602 gam.”
Đối với Nguyễn Văn C là người mua ma túy của Trần Thị T ngày 29/01/2024 với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên khối lượng ma túy Chi tàng trữ là 0,602 gam Ketamine chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an thị xã S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức xử phạt: Phạt tiền 3.500.000đ đối với Nguyễn Văn C.
Đối với nguồn gốc 01 gói ma túy Ketamine và người đàn ông bán ma túy cho T tại khu vực cánh đồng, ngã tư Đ thuộc thôn P, Đường L, S, Hà Nội, sử dụng số điện thoại 0349.361.xxx. Do không có thông tin cụ thể, quá trình điều tra, xác minh, rà soát Camera không xác định được nhân thân của người nam giới này, đến nay không có sở xác minh làm rõ nên Cơ quan CSĐT - Công an T không có căn cứ để xử lý.
Đối với số điện thoại 0349.361.xxx chủ thuê bao đăng ký là Ngô Văn H1, Sn 1965, HKTT: Khu phố D, phường X, TX S, Phú Yên. Quá trình điều tra, xác minh ông H1 khẳng định không sử dụng, không được đăng ký số điện thoại 0349.361.xxx, cũng như cho Trần Thị T nhận dạng qua ảnh, T khẳng định không phải là người nam giới đã bán ma túy cho T ngày 29/01/2024. Nên Cơ quan CSĐT - Công an T không đề cập xử lý đối với ông H1.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.
Tại bản cáo trạng số 47/CT – VKS ngày 26/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thư t 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ ma túy trong 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K, Công an thành phố H, bên ngoài có chữ ký của Trần Thị T, Nguyễn Văn C, chữ ký của ông Hồ Anh H2 - cán bộ Công an phường X và giám định viên Lê Khắc N. Tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.700.000 đồng. Trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động Iphone 7, màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị T.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 29/01/2024, tại khu vực ngõ H, phường X, thị xã S, thành phố Hà Nội, Trần Thị T đang có hành vi bán trái phép 0.602 gam ma túy loại Ketamine cho Nguyễn Văn C thì bị Công an phường X phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người đúng tội.
- Xét hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Ma túy trong 01 phong bì dán kín của phòng K-Công an thành phố H là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen là phương tiện bị cáo và Chi dùng để liên lạc mua bán ma tuý nên cần tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước; số tiền 2.700.000 đồng là tiền mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với điện thoại di động Iphone 7 và 01 căn cước công dân xét không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
1.Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ ma túy trong 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K, Công an thành phố H, bên ngoài có chữ ký của Trần Thị T, Nguyễn Văn C, chữ ký của ông Hồ Anh H2- cán bộ Công an phường X và giám định viên Lê Khắc N. Tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.700.000 đồng. Trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động Iphone 7, màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị T.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/04/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Công an thị xã S; Giấy Uỷ nhiệm chi giữa Kho bạc nhà nước thị xã S và Công an thị xã S)
3. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Trần Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
*Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tú |
Bản án số 50/2024/HSST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bc T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
