|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 31 - 5 – 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu trung tâm:
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Hiền
Ông Bùi Xuân Hưởng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
Ông Vũ Anh T - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai: Ông Trịnh Ngọc T1 - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử số 1 – Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, với điểm cầu thành phần là Phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an thành phố L đối với bị cáo:
PHẠM VĂN TRUNG;
Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 9 năm 1999 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị L. Bị cáo có vợ Phạm Thị Tuyết M và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người chứng kiến:
- + Anh Đặng Văn S – Sinh năm 1973.
- Địa chỉ: Tổ E, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Ông Trần Đình K – Sinh năm 1964.
- Địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8/2023, Phạm Văn T2 nảy sinh ý định trồng cây Cần sa, mục đích để bán kiếm lời. Phạm Văn T2 vào ứng dụng mạng xã hội Telegram tìm kiếm “hạt giống cây cần sa” thì xuất hiện tài khoản tên “Phạm M1”. Phạm Văn T2 đã nhắn tin đặt mua 30 (ba mươi) hạt giống cây cần sa với giá là 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng). Khoảng 05 ngày sau thì được người giao hàng đến giao bưu phẩm là hạt giống cây cần sa, Phạm Văn T2 thanh toán số tiền 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) rồi đi lên phòng ngủ và mở hộp bưu phẩm thì thấy bên trong có 01 (một) túi nilon chứa các hạt bầu dẹt màu nâu là các hạt giống cây cần sa. Phạm Văn T2 cất giấu toàn bộ số hạt giống cây cần sa vào trong tủ quần áo. Khoảng 02 ngày sau, Phạm Văn T2 mua chậu để cây cảnh, đất hữu cơ và mang hạt giống cây cần sa lên sân thượng tầng 3 của ngôi nhà đang ở để trồng vào 30 chậu cây. Đến đầu tháng 12/2023 thì 30 chậu cây cần sa cao được khoảng 01 mét, Phạm Văn T2 thu hoạch búp cây Cần sa rồi mang đi phơi khô và đóng gói được 12 túi gồm: 07 túi nilon màu trắng; 02 túi nilon màu đỏ; 03 túi nilon màu đen và 01 lọ nhựa. Sau đó, Phạm Văn T2 mang 07 túi nilon màu trắng; 01 túi nilon màu đen và 01 lọ nhựa chứa ma túy Cần sa cất giấu vào trong tủ quần áo tại phòng ngủ tầng hai. Còn lại 02 túi nilon màu đỏ và 02 túi nilon màu đen Phạm Văn T2 để trên sân thượng tầng 3.
Khoảng 12 giờ ngày 06/01/2024 thông qua ứng dụng Telegram một tài khoản tên “Mike Cloud” nhắn tin cho Phạm Văn T2 đặt mua 01 túi ma túy cần sa với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), địa chỉ người nhận là Phạm Thị Q (bến xe A, thành phố Hồ Chí Minh) và báo khi nào gửi được thì lấy số điện thoại nhà xe gửi cho người này, tiền mua ma túy Cần sa sẽ chuyển sau. Sau đó, Phạm Văn T2 lấy 01 túi nilon chứa ma túy Cần sa cho vào thùng cát tông cùng mấy bộ quần áo để tránh bị phát hiện. Do không có xe khách chạy thẳng tuyến Lào Cai đến Bến xe A nên Phạm Văn T2 đã nhờ anh Nguyễn Đức T3 chạy xe ôm G ở thành phố Hà Nội nhận giúp ở Bến xe N, thành phố Hà Nội, rồi chuyển vào Bến xe A, thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Văn T2 một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 24A-071.71 mang thùng hàng có chứa ma túy cần sa cùng 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy Cần sa; 01 lọ nhựa chứa ma túy cần sa đi đến văn phòng N1 ở nút giao Phố Lu thuộc xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai để gửi đến Bến xe N. Sau khi gửi hàng xong, Phạm Văn T2 tiếp tục điều khiển xe ô tô đi lên thành phố L để tìm người mua ma túy cần sa.
Hồi 16 giờ 10 phút ngày 06/01/2024 tổ Công tác Đội Cảnh sát giao thông đường bộ (Đội 7) Phòng C Công an tỉnh L phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L làm nhiệm vụ tại đường L thuộc tổ E, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai đã yêu cầu kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát: 24A-071.71 do Phạm Văn T2 điều khiển, trên xe tại vị trí ghế lái Phạm Văn T2 khai nhận đang cất giấu ma túy và tự giác mở hộc để đồ bên phải phía trước ghế cạnh ghế lái ra giao nộp 01 lọ nhựa hình trụ tròn có nắp vặn màu đen bên trong chứa chất thực vật khô màu xanh xám, từ vị trí trên sàn xe phía dưới trước ghế ngồi cạnh ghế lái giao nộp 01 bọc nilon màu vàng bên trong là túi nilon chứa chất thực vật khô, màu xanh xám. Phạm Văn T2 khai nhận toàn bộ chất thực vật khô, màu xanh xám là ma túy cần sa của T2. Mục đích cất giấu để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của Phạm Văn T2 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai màu trắng, biển kiểm soát: 24A-071.71; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng (đã qua sử dụng).
Quá trình điều tra Phạm Văn T2 khai nhận hồi 15 giờ 15 phút ngày 06/01/2024 Phạm Văn T2 đã gửi hộp bưu kiện chứa ma túy cần sa tại Văn phòng N1 thuộc xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành làm việc kiểm tra kiện hàng do Phạm Văn T2 gửi. Thu giữ 01 gói nilon màu trắng được hàn kín các mép, bên trong chứa chất thực vật khô màu xanh.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn T2 tại thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét thu giữ trên sân thượng tầng 3 của ngôi nhà gồm: 02 (hai) túi nilon màu đen và 02 (hai) túi nilon màu đỏ bên trong mỗi túi đều chứa chất thực vật khô màu xanh xám; Thu giữ tại phòng ngủ tầng 2 của Phạm Văn T2 05 (năm) túi nilon màu trắng và 01 (một) túi nilon màu đen bên trong mỗi túi đều chứa chất thực vật khô màu xanh xám. Phạm Văn T2 khai nhận toàn bộ chất thực vật khô, màu xanh xám là ma túy cần sa.
Ngày 07/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L ra quyết định số 37/QĐ-ĐCSMT trưng cầu giám định về ma túy. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 07/01/2024 xác định niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định, các mẫu niêm phong được ký hiệu từ M1 đến M13 với khối lượng trích mẫu là 135,42 gam, còn lại sau trích mẫu là 2.963,1 gam.
Kết luận giám định số 39/KL-GĐMT ngày 14/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:
- + Mẫu M1: 6,57 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M2: 117,76 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M3: 101,78 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M4: 344,78 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M5: 361,06 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M6: 331,23 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M7: 546,10 gam là lá của cây cần sa.
- + Mẫu M8: 186,43 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M9: 218,13 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa
- + Mẫu M10: 76,70 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M11: 224,83 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M12: 173,86 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
- + Mẫu M13: 409,29 gam là cành, lá, hoa của cây cần sa.
Quá trình điều tra Phạm Văn T2 khai nhận mua hạt giống cây cần sa trên ứng dụng Telegram để trồng với mục đích thu hoạch cành, lá, hoa để bán kiếm lời.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.
Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Văn T2 về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T2 từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Từ khoảng tháng 8/2023 đến ngày 06/01/2024, bị cáo Phạm Văn T2 đã có hành vi mua 30 hạt giống cây cần sa để trồng và thu hoạch được 3.098,52 gam ma túy là cành, lá, hoa của cây cần sa mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Văn T2 không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có bà nội là Phạm Thị N được tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, vì vậy, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, màu trắng biển kiểm soát: 24A-071.71 (đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản của anh Phan Văn T4, anh T4 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Văn T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho anh Phan Văn T4 là phù hợp;
Đối với vật chứng còn lại sau giám định gồm 2.963,1 gam đều là cành, lá, hoa của cây cần sa thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng (đã qua sử dụng) là tài sản bị cáo sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng (đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với tài khoản tên “Phạm M1” đã bán hạt giống cây cần sa cho Phạm Văn T2 và tài khoản “Mike Cloud” có địa chỉ người nhận là Phạm Thị Q (bến xe A, thành phố Hồ Chí Minh) đã đặt mua ma túy của Phạm Văn T2 trên ứng dụng mạng xã hội T5 và người giao hàng (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến giao bưu phẩm là hạt giống cây cần sa cho Phạm Văn T2. Ngoài lời khai của bị cáo ra không có chứng cứ nào khác để chứng minh. Vì vậy, không đủ căn cứ xử lý trong vụ án.
Đối với anh Nguyễn Đức T3 là người được Phạm Văn T2 nhờ nhận gói bưu phẩm ở bến xe N, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Đức T3 không biết gói bưu phẩm là ma túy và không liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Văn T2. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với ông Phạm Văn V - bố đẻ của Phạm Văn T2 và những người khác ở cùng nhà trong gia đình Phạm Văn T2: Quá trình điều tra xác định ông Phạm Văn V và những người khác ở cùng nhà trong gia đình Phạm Văn T2 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không đề cập xử lý là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Phạm Văn T2 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 06/01/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định gồm mẫu M1: 5,26 (Năm phẩy hai mươi sáu) gam; mẫu M2: 112,53 (Một trăm mười hai phẩy năm mươi ba) gam đều là cành, lá, hoa của cây cần sa cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng một hộp bìa cát tông. Trên một mặt của hộp niêm phong có in dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phạm Văn T2 ngày 06/01/2024 tại tổ E, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai”.
Mẫu M3: 95,0 (Chín mươi năm phẩy không) gam cành, lá, hoa của cây cần sa cùng niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong bằng hộp bìa cát tông ban đầu gửi giám định. Trên một mặt của hộp niêm phong có in dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi làm việc với văn phòng N1 thuộc xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai".
Mẫu M4: 329,53 (Ba trăm hai mươi chín phẩy năm mươi ba) gam; mẫu M5: 335,63 (Ba trăm ba mươi lăm phẩy sáu mươi ba) gam; mẫu M6: 306,74 (Ba trăm linh sáu phẩy bảy mươi tư) gam; mẫu M7: 518,60 (Năm trăm mười tám phẩy sáu mươi) gam; mẫu M8: 181,81 (Một trăm tám mươi mốt phẩy tám mươi mốt) gam; mẫu M9: 215,52 (Hai trăm mười lăm phẩy năm mươi hai) gam; mẫu M10: 74,08 (Bảy mươi tư phẩy không tám) gam; mẫu M11: 220,40 (Hai trăm hai mươi phẩy bốn mươi) gam; mẫu M12: 170,0 (Một trăm bảy mươi phẩy không) gam; mẫu M13: 398,0 (Ba trăm chín mươi tám phẩy không) gam đều là cành, lá, hoa của cây cần sa cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong vào thùng bìa cát tông ban đầu gửi giám định. Trên một mặt của hộp niêm phong có in dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Phạm Văn T2 ngày 06/01/2024 tại thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai”.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 Pro Max màu vàng, số I: 353902102337045 gắn 01 (Một) thẻ sim bên trong, điện thoại cũ đã qua sử dụng, mặt kính sau bị vỡ;
Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng, số Imei: 863616037025292 gắn 01 (Một) thẻ sim bên trong, điện thoại cũ đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2024)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM VĂN T
