|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 50/2023/HS-ST Ngày: 30/11/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thuý Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Bà: K'Nga
- + Bà: Nguyễn Thị Bé
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt –Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông tham gia phiên tòa:
Ông Trương Văn Dương – Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đam Rông. Tòa án nhân dân huyện Đam Rông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 và Thông báo số 01/TB-TA về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa đối với bị cáo:
Họ và tên: Cil H; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06 tháng 7 năm 1990 tại Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Làm nông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: MNông; Tôn giáo: Công giáo. Họ tên cha: Kră Jăn Ha N (đã chết). Họ tên mẹ: Cil K, sinh năm (không biết). Chị em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Có vợ tên Păng Ting K1, sinh năm 1991. Con có 04 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021. Hiện vợ, mẹ và các con đang sinh sống tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án, tiền sự: (không). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
Bà Cil K2; Sinh năm: 1985
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Trịnh Văn P; Sinh năm 1976
- Địa chỉ: thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
- - Ông Nông Đức H; Sinh năm 1985
- Địa chỉ: thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
- - Ông Kră Jăn Ha Đ; Sinh năm 1997
- Địa chỉ: thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Ông H, ông P, anh Đ đều có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cil H không có nghề nghiệp ổn định, vì muốn có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Quá trình sinh sống tại địa phương, Đ1 biết nhà chị Cil K2, ở cùng thôn thường xuyên cột bò qua đêm tại rẫy, thuộc thôn C nên Đ1 muốn trộm cắp bò để đem bán.
Vào khoảng 04 giờ ngày 24/8/2023, Đ1 đi bộ đến khu vực bà K2 cột bò, chọn 01 con bò cái, màu vàng, Đ1 nhổ cọc, mở dây cột bò rồi dắt bò đi theo đường mòn đến cột tại khu vực nghĩa địa thôn C, cách vị trí trộm bò khoảng 1,7km. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Đ1 đi đến nhà Kră Jăn H, sinh năm 1997, trú cùng thôn, nhờ Đ tìm người mua bò. Tại đây, Đ1 nói với Đ là bò của bố mẹ vợ cho Đ1, bán lấy tiền đi chăm con ốm tại thành phố Đ. Sau đó Đ gọi điện thoại cho anh Nông Đức H nói bán một con bò. Khoảng 20 phút sau, ông H đi đến khu vực Đ1 cột bò. Tại đây, Đ1 mượn điện thoại của Đ giả vờ gọi cho vợ, hỏi giá bán, nhằm để Đ và H tin là bò của Đ1. Sau khi thống nhất giá bán 6.000.000 đồng, H đưa cho Đ1 30 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, rồi dắt bò để về bán lại cho ông Trịnh Văn P với giá 7.500.000 đồng, tuy nhiên đã bị cơ quan điều tra bắt giữ.
Sau khi có tiền bán bò, Đông chia cho Đ 100.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết khoảng 300.000 đồng.
Cơ quan điều tra thu giữ 01 con bò cái, lông màu vàng, đã bàn giao lại cho gia đình bà C K’Long; số tiền 5.600.000 đồng còn lại của C1 và 100.000 đồng do Cil Ha Đ2 tự nguyện giao nộp.
Theo Kết luận định giá tài sản số 25 ngày 31/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, trị giá con bò do C1 trộm cắp là 7.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà C K’Long không có yêu cầu gì; ông Nông Đức H yêu cầu bị cáo Cil Ha Đ3 phải bồi thường cho ông 6.000.000đ. Ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thì bị cáo bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Cil Ha Đ3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Cil Ha Đ3 về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử bị cáo 03 tháng 6 ngày tù, bằng thời hạn tạm giam và trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên tịch thu nộp ngân sách số tiền 5.700.000 đồng do phạm tội mà có. Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nông Đức H số tiền 6.000.000 đồng.
Về án phí buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại, ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, khởi tố. Truy tố bị cáo, cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông cơ bản đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về yếu tố cấu thành tội phạm: Vào ngày 24/8/2023, Đ3 đi bộ đến khu vực bà K2 cột bò. Sau khi quan sát không thấy ai Đ3 đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là 01 con bò của bà C K’Long với giá trị là 7.000.000₫ ( Bảy triệu đồng). Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo Cil Ha Đ3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông truy tố bị cáo theo khoản 1, Điều 173 – BLHS là đúng người đúng tội và đúng pháp luật
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Cil H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu, khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại số tiền đã bán tài sản trộm cắp. Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù không nghiêm trọng nhưng đã làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh tại địa phương nên cần tiếp tục cách ly bị khỏi xã hội để bị cáo rèn luyện bản thân cũng như tạo tính răn đe chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại con bò bà C K' L không yêu cầu gì. Ông H yêu cầu bị cáo Đ3 phải trả số tiền 6.000.000 đồng, bị cáo đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu này là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị cáo Cil Ha Đ3 phải trả cho ông Nông Đức H số tiền 6.000.000 đồng.
Trong vụ án này, Kră J Ha Đ2 là người liên hệ bán bò giúp C1; Nông Đức H là người mua bò. Tuy nhiên, cả hai không biết là do bị cáo trộm cắp nên không xử lý về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[5] Về vật chứng: Đối với con bò đã trả lại cho bị hại theo Quyết định số 26/QĐ – CQĐT ngày 24/8/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.
Còn đối với số tiền 5.700.000đ bị cáo và Ha Đ2 tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Hiện số tiền trên đã được giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông. Số tiền trên là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Cil Ha Đ3 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Cil Ha Đ3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cil Ha Đ3 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (24/8/2023).
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Cil Ha Đ3 có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nông Đức H số tiền là: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Cil Ha Đ3 phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng 500.000 đồng án phí.
Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết và có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/11/2023) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thúy Phượng |
Bản án số 50/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 50/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
