TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 7 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Vĩnh Thái;
2/ Bà Nguyễn Thu Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Mã Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Công Minh T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1957; nơi sinh: huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: H, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn S1; trình độ văn hóa: 7/10; Bố đẻ: Nguyễn Công K, đã chết; mẹ đẻ: Đức Thị Đ, đã chết; Anh chị em ruột: Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; Con: Có 03 người con, con thứ nhất sinh năm 1983, con thứ ba sinh năm 1988;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024, đến ngày 10/5/2024 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, hiện tại ngoại H, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Họ và tên: Hoàng Đức T1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1980; nơi sinh: huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Khu A, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH H7; trình độ văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Hoàng Đức T2, sinh năm 1950; mẹ đẻ: Hà Thị Đ1, đã chết; A, chị, em ruột: Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1982; Con: Có 03 người con, thứ nhất sinh năm 2003, con thứ ba sinh năm 2022;
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại Khu A, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Họ và tên: Phan Văn H1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1985; nơi sinh: huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH T6; trình độ văn hóa: 9/12; Bố đẻ: Phan Văn H2, đã chết; Nguyễn Thị H3, sinh năm 1953; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Trần Thị S, sinh năm 1993; Con: Có 03 người con, thứ nhất sinh năm 2009, con thứ ba sinh năm 2015;
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại Khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Các bị cáo có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cục thuế tỉnh P
Địa chỉ: Số C, đường N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy H4 - Cục trưởng.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Đức K1 - Chức vụ: Công chức phòng thanh tra, kiểm tra số 1 - Cục Thuế tỉnh P.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 (viết tắt là Công ty S1)
Địa chỉ: số G, đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện theo pháp luật: Ông Đường Minh L – Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh Đ2 - Phó giám đốc.
- Công ty TNHH H7
Địa chỉ: Khu A, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Đức T1 - Giám đốc.
- Công ty TNHH T6
Địa chỉ: Khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn H1 - Giám Đốc.
(Ông K1, ông Đ2, ông T1, ông H1 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 (viết tắt là Công ty S1) hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh V cấp ngày 7/3/2017, địa chỉ: số G, đường H, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngành nghề kinh doanh chính: Hoạt động xây dựng và đầu tư dự án. Người đại diện theo pháp luật là ông Công Minh T, sinh năm 1957, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 25/8/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh P ra quyết định số 2157/QĐ-UBND về việc chấp thuận chủ trương dự án Đầu tư và kinh doanh một phần hạ tầng kỹ thuật Cụm C, huyện C, tỉnh Phú Thọ với tổng vốn đầu tư 180 tỷ đồng với diện tích đất sử dụng là: 283.951m². Sau khi phối hợp với chính quyền địa phương giải phóng mặt bằng, Công ty S1 tiến hành thuê các đơn vị thực hiện dự án. Ngày 10/11/2017 Công ty S1 ký hợp đồng số 01/2017/HĐTC-HH với Công ty TNHH H7 (viết tắt là Công ty H7), địa chỉ: Khu A, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ; người đại diện theo pháp luật: Hoàng Đức T1 - Giám đốc, với nội dung Công ty S1 thuê Công ty H7 thực hiện gói thầu san nền tại dự án Cụm C, huyện C, tỉnh Phú Thọ do Công ty S1 làm chủ đầu tư, tổng khối lượng đất san lấp là 500.000m³.
Hành vi phạm tội Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên của các bị cáo:
Để có đất san lấp theo hợp đồng đã ký kết Công ty H7 khảo sát và có văn bản gửi các cấp chính quyền xin thăm dò mỏ đất đắp nền công trình tại khu vực M, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Mặc dù không được Cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác đất nhưng trong thời gian đầu năm 2018, Hoàng Đức T1 - Giám đốc Công ty H7 đã sử dụng máy móc để khai thác đất trái phép tại khu vực M, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ rồi vận chuyển đất đến Cụm C (địa điểm thi công dự án do Công ty S1 làm chủ đầu tư) để san lấp mặt bằng, đến khoảng tháng 3/2018 do không thống nhất được việc thi công san lấp và thanh toán nên Công ty S1 và Công ty H7 đã tiến hành nghiệm thu, thanh lý hợp đồng. Theo kết quả nghiệm thu giữa Công ty S1 và Công ty H7 thì tổng khối lượng đất đã khai thác là 116.279m³. Tổng giá trị thanh toán là 5.000.000.000 đồng. Để hợp thức cho nguồn gốc đất san lấp đã khai thác trái phép nêu trên Công ty H7 đã tự kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường cho 100.000m³ đất đã khai thác trái phép tại M, xã S, huyện C, với tổng số tiền 543.000.000 đồng. Công ty S1 đã nghiệm thu thanh toán cho Công ty H7 số tiền 5.000.000.000 đồng.
Ngày 22/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với 116.279m³ đất do Công ty H7 khai thác trái phép nêu trên, kết quả ngày 04/5/2024, Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ đã kết luận giá trị 116.279m³ đất là: 5.697.671.000 đồng.
Sau khi kết thúc hợp đồng với Công ty H7, ngày 10/4/2018, Công ty S1 ký hợp đồng số 01/2018/HĐTC/PT-HT với Công ty TNHH T6 (viết tắt là Công ty T6); địa chỉ: khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ, người đại diện theo pháp luật: Phan Văn H1 - Giám đốc, về việc giao khoán thi công hạng mục san (giai đoạn 2) dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh một phần hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ, trong đó khối lượng đất san lấp là 500.000m³. Mặc dù không được Cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác đất nhưng trong năm 2018 ông Phan Văn H1 - Giám đốc Công ty T6 ký hợp đồng thuê Công ty H7 thực hiện khai thác đất trái phép tại khu vực M, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ (với cước phí vận chuyển 2.811.820.000 đồng sau thuế) rồi thuê Công ty M vận chuyển đất đến Cụm C (với cước phí vận chuyển 7.920.000.000 đồng sau thuế) là địa điểm thi công dự án do Công ty S1 làm chủ đầu tư để san lấp mặt bằng. Vị trí đất Công ty H7 thực hiện khai thác thuê cho Công ty T6 trùng với vị trí Công ty H7 đã khai thác trước đó.
Sau khi thực hiện một thời gian do không thống nhất được việc thanh toán tiền Công ty S1 và Công ty T6 đã thống nhất tiến hành nghiệm thu, thanh lý hợp đồng. Theo kết quả nghiệm thu tổng khối lượng Công ty T6 san lấp là 313.953,49m³, trong đó có 168.750m³ đất được khai thác tại khu vực M, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ, còn lại khối lượng 145.203,49m³ là thực hiện san gạt tại chỗ. Tổng giá trị nghiệm thu thanh toán là 13.500.000.000 đồng.
Để hợp thức cho nguồn gốc đất san lấp đã khai thác trái phép nêu trên Công ty T6 đã tự kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường cho 168.750m³ đất đã khai thác trái phép tại M, xã S, huyện C, với tổng số tiền 916.312.500 đồng.
Ngày 22/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với 168.750m³ đất do Công ty T6 khai thác trái phép nêu trên, kết quả ngày 04/5/2024, Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ đã kết luận giá trị 168.750 m³ đất là: 8.268.750.000 đồng.
Sau khi kết thúc hợp đồng với Công ty T6, mặc dù không được Cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác đất nhưng trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2021, ông Công Minh T - Giám đốc Công ty S1 đã tự thuê máy móc để khai thác 396.000m³ đất trái phép tại khu vực M, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ rồi thuê Công ty TNHH X, địa chỉ: Xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ vận chuyển đất đến Cụm C (địa điểm thi công dự án do Công ty S1 làm chủ đầu tư) để san lấp mặt bằng với chi phí vận chuyển 17.424.000.000 đồng sau thuế.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thu thập mẫu đất để tiến hành giám định, ngày 28/12/2023, Trung tâm phân tích địa chất - Cục Đ5 đã kết luận: mẫu đất gửi giám định là khoáng sản có tên gọi là sét làm vật liệu thông thường.
Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với 396.000m³ đất do Công ty S1 khai thác trái phép nêu trên, kết quả ngày 08/01/2024, Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ đã kết luận giá trị 396.000m³ đất là: 23.760.000.000 đồng.
Ngày 30/11/2023 Công ty S1 đã tự kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với 396.000m³ đất khai thác trái phép, số tiền 2.229.480.000 đồng.
Quá trình khai thác trái phép đất san lấp, Hoàng Đức T1, Phan Văn H1, Công Minh T đều không được chính quyền địa phương đồng ý nên đã lén lút khai thác nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.
Hành vi sử dụng tài liệu giả của bị can Công Minh T:
Sau khi thực hiện việc san lấp mặt bằng, để nâng tổng vốn đầu tư thực hiện việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại Cụm C thị trấn S, ngày 08/02/2022, Công ty P hồ sơ đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư trong đó đề nghị điều chỉnh tăng vốn đầu tư từ 180 tỷ đồng lên 400 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu nhà đầu tư lên 80 tỷ đồng. Theo quy định tại khoản 2, Điều 14, Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai để được chấp thuận điều chỉnh đầu tư, dự án đầu tư có quy mô sử dụng đất từ 20 hec ta trở lên phải có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư (tương đương vốn chủ sở hữu không thấp hơn 60 tỷ đồng) nhưng trên thực tế Công ty S1 chỉ có vốn chủ sở hữu: 10 tỷ đồng. Do vậy, khoảng giữa năm 2021, Công Minh T - Giám đốc đã chỉ đạo Nguyễn Minh Đ2 - Phó Giám đốc Công ty S1 tìm doanh nghiệp kiểm toán yêu cầu làm 02 báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2019, 2020 với doanh thu trong báo cáo từ 400 tỷ đến 500 tỷ đồng, Đ2 đã lên mạng interet liên hệ với Công ty TNHH T7. Sau khi nhận được báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Chi nhánh Công ty TNHH T7 anh Đ2 đã chuyển lại cho ông T sau đó ông T ký vào mục Giám đốc Công ty S1 và chỉ đạo Nguyễn Thị H3 - kế toán Công ty S1 ký vào mục kế toán.
Kết quả điều tra xác định, 02 bản báo cáo kiểm toán năm 2019, 2020 của công ty S1 là giả, cụ thể: Năm 2019: Nâng khống nguồn vốn chủ sở hữu từ 152.299.824.052 đồng lên 450.631.909.490 đồng, vốn chủ sở hữu: từ 16.217.532.774 đồng lên 217.549.459.449 đồng, doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ từ 83.595.098.474 đồng lên 436.169.342.987 đồng. Năm 2020: Nâng khống nguồn vốn chủ sở hữu từ 155.914.755.504 đồng lên 571.257.052.789 đồng, vốn chủ sở hữu: từ 12.969.208.094 đồng lên 325.700.785.201 đồng, doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ từ 18.011.340.211 đồng lên 494.911.340.211 đồng, lợi nhuận sau thuế: từ (âm)- 3.243.531.680 đồng lên 8.151.325.752 đồng.
Sau đó ông T chỉ đạo Đức phô tô các bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán rồi đóng vào tập hồ sơ đề nghị điều chỉnh chủ trương đầu tư gửi Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Phú Thọ. Căn cứ hồ sơ của Công ty P, Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh P đã lập tờ trình và được Ủy ban nhân dân tỉnh P chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án.
Sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh P chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, Công ty S1 đã tiến hành thuê đơn vị thiết kế bản vẽ thi công hạng mục: Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, sau đó tiến hành ký hợp đồng thuê các đơn vị thực hiện. Cụ thể: ngày 03/01/2022, Công ty S1 và Công ty TNHH K2 (viết tắt là Công ty K3) ký hợp đồng số 0301/2022/PT-KOASTAL thiết kế thi công xây dựng, cung cấp và lắp đặt thiết bị đào tạo chuyển giao công nghệ Nhà máy X1 tập trung tại Cụm C, công suất 9.500m³/ngày đêm với tổng giá trị hợp đồng: 148.970.509.641 đồng, trong đó Công ty S1 chỉ định Công ty K3 ký hợp đồng thuê Công ty cổ phần X2 (viết tắt là Công ty X2) thực hiện hạng mục cung cấp cọc bê tông ly tâm và toàn bộ vật tư, nhân công xây dựng cụm bể xử lý nước thải từ TK01 đến TK24 với giá trị hợp đồng: 46.750.001.286 đồng. Đến ngày 06/01/2022, Công ty S1 và Công ty X2 ký hợp đồng thi công xây dựng số: 02/2022/HĐXD/PT-TA Công trình Hệ thống xử lý nước thải tập trung, hồ sự cố, hồ kiểm chứng và phụ trợ - Phần xây dựng với giá trị hợp đồng là: 58.754.908.000 đồng (bao gồm thuế VAT 10%). Theo kết quả nghiệm thu thì giá trị khối lượng Công ty X2 thực hiện tổng là: 103.521.898.479 đồng (trong đó theo hợp đồng số 02/2022/HĐXD/PT-TA_là: 57.621.897.216 đồng, theo hợp đồng giữa Công ty K3 và Công ty X2 là: 45.900.001.263 đồng), Công ty X2 đã xuất 08 hóa đơn trong năm 2022 cho Công ty S1 với tổng giá trị: 57.621.897.217 đồng; Công ty K3 xuất 07 hóa đơn cho Công ty P1 (do Công ty X2 thực hiện) với tổng giá trị là: 45.900.001.236 đồng.
Kết quả điều tra xác định: Theo thỏa thuận giữa Công ty S1 và Công ty X2 thì giá trị thực tế thi công công trình hết số tiền là: 73.414.518.976 đồng (tương đương 70% giá trị hợp đồng), còn lại số tiền: 30.107.379.503 đồng (tương đương 30% giá trị hợp đồng) Công ty X2 sẽ trả lại cho Công ty S1 bằng hình thức: Khi Công ty S1 thanh toán khối lượng, tạm ứng chuyển khoản đến tài khoản Công ty X2 hoặc chuyển khoản đến tài khoản Công ty K3 (sau đó Công ty K3 chuyển khoản cho Công ty X2) thì anh Trần Đình G - Giám đốc Công ty X2 sẽ chuyển tiền từ Công ty X2 sang tài khoản cá nhân rồi chuyển trả lại cho Công ty S1 thông qua tài khoản cá nhân của ông Nguyễn Công T3 - Chủ tịch HĐTV và anh Nguyễn Minh Đ2 - Phó Giám đốc Công ty S1. Quá trình điều tra anh Trần Đình G xác định số tiền trả lại cho Công ty S1 được nâng khống giá trị tại 07 hóa đơn do Công ty X2 xuất cho Công ty S1, anh G thực hiện xuất hóa đơn theo giá trị hợp đồng đã ký kết với Công ty S1, ông G không biết việc Công ty S1 sử dụng các hóa đơn để kê khai quyết toán thuế. Mặc dù biết khoản chi phí có giá trị: 30.871.300.987 đồng là chi phí khống trong các hóa đơn mà Công ty X2 xuất cho Công ty S1 nhưng Công ty S1 vẫn sử dụng 07 tờ hóa đơn này để kê khai thuế GTGT năm 2022, 2023.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đã trưng cầu giám định hành vi vi phạm pháp luật về thuế gửi Cục Thuế tỉnh P. Kết quả: Ngày 08/4/2024, Cục Thuế tỉnh P đã ban hành kết luận giám định trong đó xác định Công ty S1 trốn thuế với số tiền 4.081.608.404 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 52/CT-VKSPT-P1 ngày 07/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố Công Minh T về các tội: “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341, tội: “Trốn thuế” quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Hoàng Đức T1, Phan Văn H1 về tội: “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố luận tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo Công Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341; tội “Trốn thuế”, quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Hoàng Đức T1, Phan Văn H1 về tội: “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự. Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 200, khoản 1 Điều 341 điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35, Điều 55 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo T).
- Xử phạt bị cáo Công Minh T 2.500.000.000đồng đến 3.000.000.000đồng nộp ngân sách nhà nước về tội: “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”.
- Xử phạt bị cáo Công Minh T 2.500.000.000đồng đến 3.000.000.000đồng nộp ngân sách nhà nước về tội: “Trốn thuế”.
- Xử phạt bị cáo Công Minh T 40.000.000đồng đến 50.000.000đồng nộp ngân sách nhà nước về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Tổng hợp hình phạt của 3 tội. Buộc bị cáo Công Minh T phải nộp số tiền 5.040.000.000đồng đến 6.050.000.000đồng vào ngân sách nhà nước.
Áp dụng điểm b khoản 2, 3 Điều 227, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo H1 và T1); điểm b khoản 1 Điều 51BLHS (đối với bị cáo H1);
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức T1 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phan Văn H1 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Giao bị cáo Phan Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Hoàng Đức T1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 227 BLHS phạt bổ sung đối với bị cáo T1 và bị cáo H1 mỗi bị cáo 50.000.000đồng.
Về số tiền thu từ hành vi khai thác tài nguyên trái phép: Buộc bị cáo Công Minh T nộp ngân sách nhà nước số tiền thu từ việc khai thác tài nguyên trái phép số tiền: 4.106.520.000đồng;
Buộc bị cáo Phan Văn H1 nộp ngân sách nhà nước số tiền thu từ việc khai thác tài nguyên trái phép 102.000.000đồng;
Buộc bị cáo Hoàng Đức T1 nộp ngân sách nhà nước số tiền thu từ việc khai thác tài nguyên trái phép 1.841.868.771đồng;
Về số tiền trốn thuế: Buộc Công Minh T nộp ngân sách nhà nước số tiền trốn thuế 4.081.608.404 đồng;
Quá trình điều tra bị cáo T đã nộp tổng số tiền 14.205.000.000đồng. Bị cáo H1 nộp số tiền 1.000.000.000đồng. Sau khi trừ đi nghĩa vụ các bị cáo phải chịu, số tiền thừa còn lại trả lại cho bị cáo H1, T. Bị cáo T1 nộp số tiền 20.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Thu giữ của T 01 chiếc bút kim loại màu vàng (dạng bút máy), không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Công Minh T.
Thu giữ của T số tiền 50.000.000 đồng và 5000USD không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Công Minh T.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đều ăn năn hối cải.
Bị cáo T: Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo tuổi đã cao, nhiều bệnh tật, trình độ lớp 7 nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo xin được chịu hình phạt tiền.
Bị cáo H1 và bị cáo T1: Các bị cáo không có tiền nên mong Hội đồng xét xử, xem xét cho các bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.
[2] Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội:
Từ năm 2018 đến năm 2021, mặc dù không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản đất sét, nhưng Hoàng Đức T1 - Giám đốc Công ty H7, Phan Văn H1 - Giám đốc Công ty T6, Công Minh T - Giám đốc Công ty S1 đã tự ý khai thác trái phép khoáng sản đất sét tại khu vực M, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ để san lấp dự án Cụm C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, trong đó Hoàng Đức T1 khai thác 116.279 m³ đất sét, có giá trị: 5.697.671.000 đồng; Phan Văn H1 khai thác 168.750 m³ đất sét, có giá trị 8.268.750.000 đồng, Công Minh T khai thác 396.000m³ đất sét, có giá trị 23.760.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của Công Minh T, Hoàng Đức T1, Phan Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Hình sự.
Để được Ủy ban nhân dân tỉnh P chấp thuận điều chỉnh dự án đầu tư dự án tại Cụm C thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Công Minh T đã sử dụng 02 báo cáo kiểm toán giả số liệu tài chính năm 2019, năm 2020 của Công ty S1 để lập hồ gửi Ủy ban nhân dân tỉnh P, do không biết hồ sơ do Công ty P giả, Ủy ban nhân dân tỉnh P đã chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án nêu trên.
Khi Công ty S1 ký hợp đồng kinh tế với Công ty X2, giá trị thực tế của hợp đồng là 73.414.518.976 đồng (tương đương 70% giá trị hợp đồng), nhưng theo yêu cầu của Công ty S1, Công ty X2 và Công ty S1 đã ký hợp đồng với giá trị lớn hơn giá trị thực tế là 103.521.898.479 đồng, Công ty S1 đã xuất hóa đơn thanh toán số tiền 103.521.898.479 đồng, giá trị hợp đồng. Mặc dù đã được Công ty X2 trả lại 30.871.300.987 đồng (tương đương 30% giá trị hợp đồng) nhưng Công Minh T vẫn sử dụng 07 hóa đơn tương ứng với số tiền 30.871.300.987 đồng để kê khai, quyết toán thuế, làm giảm số tiền thuế phải nộp, gây thiệt hại về thuế cho Nhà nước số tiền 4.081.608.404 đồng.
Hành vi của Công Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 và tội “Trốn thuế”, quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó trực tiếp xâm phạm đến tài nguyên thiên nhiên do nhà nước quản lý. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Đối với bị cáo Công Minh T bị xét xử về 03 tội, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tích cực khắc phục toàn bộ hậu quả. Quá trình công tác bị cáo đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng 05 ngôi nhà tình nghĩa, đóng góp 100 bình ô xy cho cộng đồng trong quá trình chống dịch covid năm 2019, bị cáo có tấm lòng nhận phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng Phùng Thị Đ3, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội đã khắc phục toàn bộ hậu quả xảy ra. Hiện tại bị cáo sức khoẻ yếu, bị cáo trình độ văn hoá lớp 7 nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, tại phiên toà bị cáo xin được được áp dụng hình phạt tiền, xét thấy cả 03 tội bị cáo đều có quy định hình phạt tiền, trước khi xét xử bị cáo đã nộp một khoản tiền chứng minh có đủ điều kiện kinh tế để nộp ngân sách nhà nước. Mặc dù, bị cáo phạm 03 tội, tuy nhiên đến khi xét xử bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả xảy ra, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo T, cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo H1 và bị cáo T1 cả 02 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, bị cáo H1 sau khi phạm tội đã tích cực khắc phục toàn bộ hậu quả nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo H1 có bố là người có công với cách mạng, bị cáo T1 có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo T1 nộp được tiền khắc phục một phần hậu quả nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS. Cả hai bị cáo đều không có điều kiện về kinh tế nên xin không áp dụng hình phạt tiền đối với 02 bị cáo. Cả hai bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện cho cải tạo ngoài xã hội. Nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù và cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với ông Nguyễn Công T3: Là Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty S1, tuy nhiên mọi hoạt động của Công ty S1 đều do ông Công Minh T điều hành. Việc khai thác trái phép tài nguyên, sử dụng giấy tờ giả, trốn thuế Công Minh T không báo cáo, trao đổi thống nhất, không được sự đồng thuận của ông T3. Đối với việc nhận tiền chuyển trả lại từ Trần Đình G là do Công Minh T nhờ mượn số tài khoản nhận tiền giúp cho Công Minh T. Ông T3 không biết việc thỏa thuận giữa Công Minh T và Trần Đình G và không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của Công Minh T. Vì vậy không có căn cứ chứng minh Nguyễn Công T3 đồng phạm với Công Minh T nên không đề cập xử lý Nguyễn Công T3 trong vụ án này phù hợp với pháp luật.
Đối với Nguyễn Minh Đ2: Được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Công ty S1 nhưng trên thực tế Nguyễn Minh Đ2 chỉ thực hiện công việc liên quan đến kỹ thuật tại Công ty S1, bản thân Đ2 không biết về số liệu tài chính của Công ty. Khi ông T giao cho Đ2 liên hệ tìm đơn vị kiểm toán, Nguyễn Minh Đ2 thực hiện theo sự chỉ đạo của Công Minh T, Đ2 không biết cụ thể về số liệu tài chính mà chỉ thực hiện theo chỉ đạo của ông T nên Đ2 đã trao đổi lại với đơn vị kiểm toán, việc bên Công ty Kiểm toán thực hiện như thế nào Đ2 không nắm được, không biết các báo cáo kiểm toán trên là giả, sau đó Đ2 nhận báo cáo tài chính đã được kiểm toán chuyển lại cho Công Minh T kiểm tra ký xác nhận. Sau đó Công Minh T chỉ đạo Đức lập hồ sơ đề nghị điều chỉnh chủ trương đầu tư (trong đó có bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2019, 2020 của Công ty S1 bản phô tô) rồi nộp tại Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Phú Thọ. Mặt khác Công Minh T có nhờ Đ2 sử dụng tài khoản cá nhân để nhận tiền từ Trần Đình G. Nguyễn Minh Đ2 chỉ nhận hộ tiền sau đó rút rồi chuyển lại cho Công Minh T. Nguyễn Minh Đ2 chỉ thực hiện theo sự chỉ đạo của Công Minh T, không biết tài liệu báo cáo tài chính đã được kiểm toán là giả, không biết việc thỏa thuận giữa Công Minh T và Trần Đình G, không được lợi gì từ hành vi phạm tội của Công Minh T. Vì vậy không có căn cứ chứng minh Nguyễn Minh Đ2 đồng phạm với Công Minh T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Nguyễn Minh Đ2 trong vụ án phù hợp với pháp luật.
Đối với Nguyễn Thị H3: Là nhân viên kế toán của Công ty S1, được giao nhiệm vụ theo dõi hạch toán sổ sách kế toán, kê khai thuế. Nguyễn Thị H3 được Công Minh T chỉ đạo ký vào các báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2019, 2020 do Chi nhánh Công ty TNHH T7 phát hành cho Công ty S1, do ông T chỉ đạo H3 ký báo cáo kiểm toán để theo dõi nội bộ, do tin tưởng ông T đã ký trước nên H3 đã ký mà không biết ông T sử dụng để lập hồ sơ đề nghị điều chỉnh chủ trương đầu tư. Mặt khác do không biết thỏa thuận giữa Công Minh T và Trần Đình G về việc số tiền chi phí thực tế để thi công xây dựng nên khi nhận các hóa đơn do Công ty X2 phát hành thì Nguyễn Thị H3 vẫn kê khai quyết toán thuế theo quy định. Bản thân H3 chỉ là nhân viên làm thuê, không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của Công Minh T. Vì vậy không có căn cứ chứng minh Nguyễn Thị Hòa đồng p với Công Minh T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thị H3 phù hợp với pháp luật.
Đối với Trần Đình G: Là Giám đốc Công ty X2, Trần Đình G trực tiếp liên hệ để xin ký hợp đồng thi công công trình xây dựng Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại Cụm C, huyện C, tỉnh Phú Thọ do Công ty S1 làm chủ đầu tư. Theo yêu cầu của Công Minh T về tính toán thực tế giá trị thi công phần xây dựng liên quan đến hạng mục trên nên Trần Đình G xác định giá trị thực tế thi công hết 73.414.518.976 đồng còn lại số tiền 30.107.379.503 đồng Công ty X2 sẽ trả lại cho Công ty S1. Việc Trần Đình G chuyển trả lại tiền cho Công ty S1 là theo thỏa thuận với ông T để được nhận thi công công trình do Công ty S1 làm chủ đầu tư. Sau đó Trần Đình G vẫn phát hành 07 hóa đơn trong đó nâng khống giá trị 30.871.300.987 đồng cho Công ty S1. Ông G không biết, không bàn bạc trao đổi về việc Công ty S1 sử dụng các hóa đơn trên để kê khai quyết toán thuế, do vậy không có căn cứ xác định Trần Đình G đồng phạm với Công Minh T về tội trốn thuế. Như vậy Trần Đình G đã có hành vi phát hành 07 hóa đơn nâng khống giá trị cho Công ty S1. Tuy nhiên hành vi của Trần Đình G chưa đủ căn cứ cấu thành tội phạm. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Trần Đình G trong vụ án này phù hợp với pháp luật.
Đối với Nguyễn Bá H5: Tại thời điểm năm 2021, Nguyễn Bá H5 là Phó Giám đốc Chi nhánh Công ty TNHH T7 đã thực hiện lập hồ sơ báo cáo tài chính kiểm toán giả năm 2019, 2020 cho Công ty S1. Tuy nhiên, hành vi làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức của Nguyễn Bá H5 đã bị xử lý tại vụ án Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức, đã bị xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2022/HS-ST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, bản án đã có bản án có hiệu lực pháp luật. Do vậy không đề cập xử lý Nguyễn Bá H5 trong vụ án phù hợp với pháp luật.
Đối với Công ty K3, địa chỉ: I, Nguyễn Hữu C, Phường B, Quận B, TP . do Trần Anh Đ4 làm Tổng Giám đốc: Công ty K3 ký hợp đồng thi công công trình hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong đó Công ty K3 ký hợp đồng thuê Công ty X2 thực hiện thi công phần xây dựng theo chỉ định của Công ty S1, bản thân ông Đ4 không biết việc thỏa thuận trả lại tiền giữa ông Công Minh T và Trần Đình G. Giữa Công ty K3 và Công ty X2 đã tiến hành nghiệm thu đúng với thực tế theo hợp đồng đã ký kết, không có việc nâng khống giá trị liên quan đến các hóa đơn do Công ty X2 phát hành cho Công ty K3 và Công ty K3 phát hành cho Công ty S1. Vì vậy không có căn cứ chứng minh hành vi vi phạm của Công ty K3 và các cá nhân tại Công ty K3.
Đối với Công ty X, địa chỉ: Khu C, xã V, Thị xã P, tỉnh Phú Thọ do bà Nguyễn Thị T4 làm Giám đốc: Công ty X ký hợp đồng vận chuyển, san lấp mặt bằng cho Công ty S1. Do Công Minh T chỉ khu vực khai thác đất tại M, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ để Công ty X tiến hành vận chuyển đến Dự án tại Cụm C do Công ty S1 làm chủ đầu tư. Công ty X không biết việc Công Minh T khai thác đất trái phép, không bàn bạc thỏa thuận gì về nội dung này. Do vậy không có căn cứ chứng minh hành vi vi phạm của Công ty X và các cá nhân tại Công ty X phù hợp với pháp luật.
Đối với Ủy ban nhân dân xã S: Theo hồ sơ theo dõi địa chính, vị trí các bị cáo khai thác đất trái phép nêu trên thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã S, mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm. Ủy ban nhân dân xã S ký hợp đồng thuê khoán cho hộ bà Đào Thị N1, địa chỉ: Khu M, xã S có trách nhiệm sử dụng nộp tiền hàng năm. Do địa bàn rộng, lực lượng cán bộ mỏng, các đối tượng khai thác lén lút nên Ủy ban nhân dân xã S không phát hiện được. Quá trình điều tra không có căn cứ xác định các cá nhân tại Uỷ ban nhân dân xã có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, bao che, hưởng lợi ích gì từ các đối tượng khai thác trái phép đất nêu trên. Do vậy không đề cập xử lý các cá nhân tại Ủy ban nhân dân xã S trong vụ án này, Viện kiểm sát sẽ có trách nhiệm kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân huyện C về công tác quản lý đất đai, khoáng sản tại địa phương.
Đối với bà Đào Thị N1, là người trực tiếp nhận thuê khoán trả tiền hàng năm đối với khu vực đất M, xã S với Ủy ban nhân dân xã S: bà N1 lầm tưởng các đối tượng được Nhà nước cấp phép khai thác, không biết các đối tượng khai thác là trái phép, không được hưởng lợi từ việc khai thác trái phép nên không đề cập xử lý phù hợp với pháp luật.
Đối với các đơn vị quản lý dự án, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát liên quan đến việc thi công xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung: Các đơn vị này được Công ty S1 ký hợp đồng thuê quản lý dự án, tư vấn giám sát liên quan đến việc thi công xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các đơn vị này không biết việc thỏa thuận nâng khống giá trị công trình giữa Công ty S1 và Công ty X2 mà chỉ thực hiện quản lý, giám sát theo chức năng, nhiệm vụ trong hợp đồng không quản lý giám sát về đơn giá. Do vậy không đề cập xử lý các cá nhân, đơn vị trên trong vụ án này phù hợp với pháp luật.
Công ty S1: Công ty S1 có 4 thành viên góp vốn là Nguyễn Công T3 (em trai ông T), Nguyễn Kim Thị L1 (vợ ông T3), Nguyễn Công T5 (con trai ông T3) và Đường V (cháu ông T). Vì có quan hệ gia đình các thành viên trong công ty giao cho Công Minh T trực tiếp quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty TNHH S1. Việc Công Minh T khai thác trái phép khoáng sản (đất san lấp), trốn thuế là do Công Minh T trực tiếp thực hiện, không bàn bạc với ai, không có sự đồng thuận của thành viên tham gia góp vốn, không vì lợi ích chung của các thành viên tham gia góp vốn. Do vậy, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là Công ty TNHH S1 về hành vi Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên quy định tại Điều 227 và trốn thuế quy định theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Công ty T6: Có 02 thành viên góp vốn là: Phan Văn H1 và Lê Thị Ánh H6 (chị dâu H1). Vì có quan hệ gia đình nên Phan Văn H1 chỉ lấy tên Lê Thị Ánh H6 góp vốn còn trên thực tế toàn bộ hoạt động của Công ty T6 đều do Phan Văn H1 trực tiếp quản lý, điều hành. Lê Thị Ánh H6 không tham gia vào bất cứ công việc gì tại Công ty T6. Việc Phan Văn H1 khai thác trái phép khoáng sản (đất san lấp) là do Phan Văn H1 trực tiếp thực hiện, không bàn bạc với ai, không có sự đồng thuận của thành viên tham gia góp vốn, không vì lợi ích chung của các thành viên tham gia góp vốn. Do vậy, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là Công ty T6 về hành vi Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên quy định tại điều 227 Bộ luật Hình sự.
Đối với Công ty H7 do Hoàng Đức T1 làm Giám đốc: T1 là người đại diện theo pháp luật và là thành viên duy nhất của công ty, công ty không có tài sản chung, Hoàng Đức T1 toàn quyền quản lý và sử dụng, lợi nhuận không chia sẻ cho bất kỳ cá nhân nào. Nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với pháp nhân Công ty H7.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo T1 có 4 tài sản hiện đang thế chấp vay vốn tại ngân hàng, bị cáo H1 đã nộp khoản tiền bồi thường, tại phiên toà bị cáo H1 trình bày số tiền nộp khắc phục hậu quả bị cáo chỉ có một phần nhỏ, phần còn lại là tiền bị cáo vay mượn của anh, chị em, nên áp dụng khoản 3 Điều 227, phạt bổ sung mỗi bị cáo 50.000.000đồng.
[5] Đối với số tiền thu từ việc khai thác trái phép tài nguyên:
Bị cáo Công Minh T khai thác trái phép 396.000m³ đất sét, theo định giá có giá trị 23.760.000.000 đồng: Bị cáo đã chi phí đầu tư san lấp mặt bằng, chi phí vận chuyển có hoá đơn chứng từ hết số tiền 17.424.000.000đồng; chi phí nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường hết 2.229.480.000đồng, số tiền còn lại 4.106.520.000đồng bị cáo phải nộp lại ngân sách nhà nước.
Bị cáo Hoàng Đức T1 khai thác trái phép 116.279 m³ đất sét, có giá trị theo định giá: 5.697.671.000 đồng: Bị cáo trình bày xe vận chuyển đất là của bị cáo, nên bị cáo đã chi tiền mua dầu 2.817.182.229đồng; chi tiền lương cho nhân viên hết 475.620.000 đồng; chi phí khấu hao 494.634.000đồng; chi phí nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường hết 543.000.000đồng; thuế 454.545.455đồng. Tổng chi phí 4.784.981.684đồng. Được công ty S1 thanh toán 5.000.000.000đồng; Số tiền còn lại 215.018.316đồng. Tuy nhiên, xem xét các khoản chi trên Hội đồng xét xử xét thấy: Số tiền chi mua dầu có hoá đơn, nên được chấp nhận, số tiền chi lương cho nhân viên được chấp nhận, số tiền chi nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường được chấp nhận. Ngoài ra số tiền T1 kê chi phí khấu hao; chi thuế, tại phiên toà Hội đồng xét xử hỏi chi thuế khoản gì, khoản tiền chi phí khấu hao là chi phí gì bị cáo T1 không giải trình được, nên không có căn được chấp nhận số tiền công ty kê chi phí khấu hao 494.634.000đồng; chỉ thuế 454.545.455đồng. Như vậy, số tiền chi phí thực tế được chấp nhận là 3.835.802.229đồng. Tổng số tiền bị cáo khai thác trái phép 116.279 m³ đất sét, có giá trị theo định giá: 5.697.671.000 đồng được trừ đi số tiền chi phí được chấp nhận 3.835.802.229đồng. Bị cáo T1 còn phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.861.868.771đồng. Bị cáo đã nộp trước khi xét xử được 20.000.000đồng. Bị cáo còn phải nộp 1.841.868.771 đồng.
Bị cáo Phan Văn H1 khai thác 313.953,49m³ trong đó có 145.203,49m³ là khối lượng thực hiện san gạt tại chỗ hợp pháp. Khối lượng khai thác trái phép 168.750 m³ đất sét, có giá trị theo định giá 8.268.750.000 đồng.
Bị cáo đã được công ty S1 thanh toán số tiền 13.500.000.000đồng. Trong số tiền được thanh toán bao gồm cả tiền thuê san gạt khối lượng 145.203,49m³ hợp pháp và tiền khai thác trái phép. Trong đó bị cáo đã chi phí thuê Công ty H7 khai thác vận chuyển có hoá đơn hết 2.811.820.000đồng; chi phí thuê công ty M vận chuyển có hoá đơn chứng từ hết số tiền 7.920.000.000đồng; chi phí nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường hết 916.312.500đồng. Số tiền còn lại 1.851.867.500đồng, tại phiên toà bị cáo khai trong số tiền trên có 102.000.000đồng bị cáo thu được từ việc khai thác đất trái phép, số tiền còn lại 1.749.867.500đồng là tiền bị cáo thuê san gạt khối lượng 145.203,49m³ hợp pháp. Do vậy, bị cáo H1 phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 102.000.000đồng.
Về số tiền trốn thuế: Buộc Công Minh T nộp ngân sách nhà nước số tiền trốn thuế 4.081.608.404 đồng
Quá trình điều tra bị cáo T đã nộp tổng số tiền 14.205.000.000đồng. Bị cáo H1 nộp số tiền 1.000.000.000đồng. Sau khi trừ đi nghĩa vụ các bị cáo phải chịu, số tiền thừa còn lại trả lại cho bị cáo H1, T. Bị cáo T1 nộp số tiền 20.000.000đồng.
[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng được xử lý như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 200, khoản 1 Điều 341 điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35, Điều 55 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo T).
Áp dụng điểm b khoản 2, 3 Điều 227, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo H1 và T1); điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo H1);
[1].Về hình phạt chính
Xử phạt bị cáo Công Minh T 2.500.000.000đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước về tội: “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”.
Xử phạt bị cáo Công Minh T 2.500.000.000đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước về tội: “Trốn thuế”.
Xử phạt bị cáo Công Minh T 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt của 3 tội. Buộc bị cáo Công Minh T phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.050.000.000đồng (Năm tỷ không trăm năm mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức T1 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phan Văn H1 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Hoàng Đức T1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Đức T1 và bị cáo Phan Văn H1 mỗi bị cáo 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).
[3].Về số tiền thu từ việc khai thác trái phép tài nguyên:
Buộc bị cáo Công Minh T nộp ngân sách nhà nước số tiền thu từ việc khai thác trái phép tài nguyên 4.106.520.000đồng (Bốn tỷ một trăm linh sáu triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp.
Buộc bị cáo Phan Văn H1 nộp ngân sách nhà nước số tiền thu từ việc khai thác trái phép tài nguyên lời 102.000.000đồng (Một trăm linh hai triệu đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp.
Buộc bị cáo Hoàng Đức T1 nộp ngân sách nhà nước số tiền thu từ việc khai thác trái phép tài nguyên 1.861.868.771đồng. Xác nhận đã nộp 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 0000370 ngày 30/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Bị cáo Hoàng Đức T1 còn phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.841.868.771đồng (Một tỷ tám trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm bảy mươi mốt đồng).
Buộc bị cáo Công Minh T nộp ngân sách nhà nước số tiền thuế 4.081.608.404đồng (Bốn tỷ không trăm tám mươi mốt triệu sáu trăm linh tám nghìn bốn trăm linh bốn đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp.
[4]. Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho Công Minh T số tiền 6.016.871.596đồng (Sáu tỷ không trăm mười sáu triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho Công Minh T 01 chiếc bút kim loại màu vàng (dạng bút máy); trả lại cho bị cáo T số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) và 5000USD (năm nghìn đô la Mỹ).
Trả lại cho Phan Văn H1 898.000.000đồng (tám trăm chín mươi tám triệu đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024, số tiền các bị cáo đã nộp hiện đang có trong tài khoản của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ do Công an tỉnh chuyển sang và tiền bị cáo Hoàng Đức T1 nộp 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 0000370 ngày 30/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ). Bị cáo Công Minh T nộp 5.000.000.000đồng (năm tỷ đồng) tại biên lai thu tiền số 0000549 ngày 30/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
[5]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Công Minh T, Phan Văn H1, Hoàng Đức T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; trốn thuế (hình sự)
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; Trốn thuế (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công Minh T - Hoàng Đức T1 - Phan Văn H1 - Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên
