Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hải Sơn - Hiệu trưởng Trường THCS Hải Xuân, xã Hải Xuân, huyện Hải Hậu.

Ông Đỗ Việt Hùng - Cán bộ hưu trí xã Hải Phúc, huyện Hải Hậu.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Trường S, sinh ngày 17/11/2007; nơi sinh và nơi cư trú: Tổ dân phố số F, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Vũ Trường S1, sinh năm 1979 và con bà Trần Thị M, sinh năm 1981; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là thứ nhất; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Đặng Anh Q, sinh ngày 28/5/2007; nơi sinh và nơi cư trú: Tổ dân phố số D, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Đặng Văn T, sinh năm 1977 và con bà Lương Thị V, sinh năm 1978; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là thứ hai; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Trường S: Ông Vũ Trường S1, sinh năm 1979 và bà Trần Thị M, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố số F, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định (là bố mẹ đẻ bị cáo). Ông S1 có mặt, bà M vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Anh Q1: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1977 và bà Lương Thị V, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố số D, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định (là bố mẹ đẻ bị cáo). Bà V có mặt, ông T vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Trường S: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Anh Q1: Bà Trần Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Trần Thị L, sinh năm 1981. Vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1950. Vắng mặt.
  3. Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1983. Vắng mặt.
  4. Ông Mai Hồng S2, sinh năm 1953. Vắng mặt.
  5. Ông Vũ Ngọc T2, sinh năm 1954. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 09/02/2024, Vũ Trường S đến nhà Đặng Anh Q1 ở Tổ dân phố số D, thị trấn Y, huyện H rủ Q1 chế tạo pháo nổ để đốt vào đêm giao thừa Tết Giáp Thìn năm 2024, Q1 đồng ý. S và Q1 mỗi người góp 50.000 đồng, sau đó cùng đến cửa hàng tạp hóa của chị Trần Thị L ở xóm H, xã H, huyện H mua một bó pháo bông gồm 20 gói, mỗi gói có khoảng 08 que và 01 bật lửa gas màu đỏ kích thước (2x7,5)cm với giá 100.000 đồng. Do trước đó, S và Q1 đã học cách chế tạo pháo nổ trên mạng xã hội nên sau khi mua được pháo bông, cả hai đi về nhà Q1 lấy vở học sinh, băng dính đen chế tạo được 10 quả pháo nổ. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 10/2/2024, Q1 điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Osaka không gắn biển kiểm soát chở S mang theo 10 quả pháo nổ đến khu vực trục đường dong thuộc Tổ dân phố số E, thị trấn Y, giáp tường phía tây Trung tâm hành chính một cửa Ủy ban nhân dân huyện H là khu trung tâm huyện, có nhiều người và phương tiện giao thông đi qua. Q1 dùng bật lửa gas đã mua từ trước mang theo đốt 02 quả pháo nổ, 01 quả ném vào gốc cây cạnh tường Trung tâm hành chính một cửa UBND huyện H, 01 quả ném xuống đường cách tường phía tây Trung tâm hành chính một cửa UBND huyện 01m. S cũng đốt 02 quả pháo nổ, 01 quả S ném vào gốc cây cạnh tường và 01 quả S ném vào chậu cây ở vỉa hè trên trục đường dong cạnh tường Trung tâm hành chính một cửa UBND huyện H. Cả 04 quả pháo Q1 và S đốt đều phát ra tiếng nổ lớn, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngay sau khi vừa đốt xong 04 quả pháo nổ tự chế thì bị Tổ công tác Công an huyện H và Công an thị trấn Y phát hiện bắt giữ. S tự nguyện giao nộp 06 quả pháo nổ tự chế còn lại chưa sử dụng (niêm phong ký hiệu K1, K2, K3, K4, K5, K6) và chiếc bật lửa gas màu đỏ. Thu giữ tại hiện trường các mảnh vụn giấy màu trắng kích thước khác nhau và các que dạng que hương dài 13cm.

Tại Bản kết luận giám định số 1172/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của V1 Bộ C, kết luận: Trên các mảnh giấy và các que dạng que hương đựng trong túi niêm phong gửi giám định có tìm thấy dấu vết của thuốc pháo nổ có thành phần chính gồm: Ion C (clorat), A (bột nhôm), P (phốt pho)...; các mảnh giấy này đều là vỏ của pháo nổ sau khi sử dụng. Các que dạng que hương đều là phần còn lại của quả pháo nổ sau khi sử dụng. Mẫu vật có ký hiệu từ K1 đến K6 gửi giám định đều là pháo nổ, tổng khối lượng là 300g (ba trăm gam).

Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS-HH ngày 02/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố các bị cáo Vũ Trường S, Đặng Anh Q1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Vũ Trường S, Đặng Anh Q1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 100; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Trường S từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 100; Điều 36 Bộ luật Hình sự; xử phạt Đặng A1 Quân từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; tuyên tịch thu cho tiêu hủy: Các mảnh vụn giấy màu trắng kích thước khác nhau, các que dạng que hương, 300 gam pháo nổ được hoàn trả sau giám định và 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, kích thước (2x7,5)cm.

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Trường S tại phiên tòa có quan điểm trình bày: Nhất trí với quan điểm của Viện Kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Vũ Trường S. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật hạn chế; hoàn cảnh gia đình có khó khăn nhiều năm là hộ nghèo của địa phương, bản thân bị cáo đang phải điều trị bệnh thận hư. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Người bào chữa cho bị cáo Đặng Anh Q1 tại phiên tòa có quan điểm trình bày: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát áp dụng đối với bị cáo Đặng Anh Q1. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Khi phạm tội còn là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo phải nghỉ học sớm để lao động. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Bị cáo Vũ Trường S và người đại diện hợp pháp của bị cáo có ý kiến nhất trí với ý kiến của người bào chữa; không tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và đề nghị cho bị cáo mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Bị cáo Đặng Anh Q và người đại diện hợp pháp của bị cáo có quan điểm nhất trí với ý kiến của người bào chữa; không tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và đề nghị cho bị cáo mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 00 giờ 05 phút ngày 10/02/2024 tại khu vực trục đường dong thuộc Tổ dân phố số E, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định (giáp Trung tâm hành chính một cửa của Ủy ban nhân dân huyện H), là khu vực công cộng, đông dân cư sinh sống, nhiều người qua lại và có trụ sở của các cơ quan của Ủy ban nhân dân huyện H; Vũ Trường S và Đặng A1 Q có hành vi đốt trái phép 04 quả pháo nổ tự chế phát ra tiếng nổ lớn, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến an ninh, trật tự và an toàn nơi công cộng; vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng. Do đó hành vi của các bị cáo phải bị xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Điều 318. Tội “Gây rối trật tự công cộng” của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

[4] Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự. Trong đó Vũ Trường S là người khởi xướng và trực tiếp đốt pháo nên có vai trò số 1; Đặng A1 Quân được rủ rê nhưng đã tham gia tích cực, trực tiếp đốt pháo nên có vai trò số 2 trong vụ án.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối lỗi; đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Trường S hiện đang phải điều bị bệnh thận hư, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra tại thời điểm phạm tội các bị cáo Vũ Trường S, Đặng A1 Q đều là người dưới 18 tuổi nên các bị cáo được áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật khi xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về áp dụng hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; nhân thân tốt; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; có ý thức sửa chữa lỗi lầm; tuổi đời còn trẻ, là người chưa thành niên nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục theo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về việc khấu trừ thu nhập, do các bị cáo còn là người dưới 18 tuổi nên không khấu trừ thu nhập theo quy định tại Điều 100 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với các mảnh vụn giấy màu trắng kích thước khác nhau; các que dạng que hương; 300 gam pháo nổ được hoàn trả sau giám định và 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, kích thước (2x7,5)cm là công cụ phạm tội của các bị cáo, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về các vấn đề khác: Chị Trần Thị L là người đã bán các que pháo bông không có nguồn gốc xuất xứ cho các bị cáo vào ngày 09/2/2024 là hành vi vi phạm hành chính nên Công an huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị L là phù hợp.

Ông Đặng Văn T và bà Lương Thị V không biết việc các bị cáo Đặng Anh Q, Vũ Trường S chế tạo pháo nổ tại nhà ở của mình nên Cơ quan điều tra không xử lý bằng pháp luật đối với ông T, bà V là phù hợp.

Các bị cáo Vũ Trường S và Đặng A1 Q có hành vi chế tạo 300 gam pháo nổ, cất giấu để sử dụng là hành vi vi phạm hành chính nên ngày 10/4/2024 Công an huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[9] Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của các bị cáo; người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 100; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Riêng bị cáo Vũ Trường S được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

2. Tuyên bố các bị cáo Vũ Trường S và Đặng Anh Q1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2.1. Xử phạt Vũ Trường S 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện H nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

2.2. Xử phạt bị cáo Đặng Anh Q1 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện H nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

2.3. Giao các bị cáo Vũ Trường S và Đặng Anh Q1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Vũ Trường S và Đặng Anh Q1.

3. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” áp dụng đối với các bị cáo Vũ Trường S và Đặng A1 Q1 theo các Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 38, 39 cùng ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy: Các mảnh vụn giấy màu trắng kích thước khác nhau và các que dạng que hương đựng trong túi niêm phong mã số 2013535; 300 gam pháo nổ đựng trong 01 túi niêm phong mã số 2013536 và 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, kích thước (2x7,5) cm.

Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Buộc các bị cáo Vũ Trường S và Đặng Anh Q1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - UBND thị trấn Y;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người đại diện hợp pháp của các bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phạm Trung Kiên

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Trường S và Đặng Anh Q - Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger