|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 50/2024/HS-ST
Ngày: 29-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đoàn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Kim Nhung và bà Đinh Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa tham gia phiên tòa: ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
Lương Đức M, sinh ngày 28/02/1994 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân K và bà Hà Thị L; vợ Trần Thị L1, có 02 đứa con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2024 cho đến nay, có mặt theo lệnh trích xuất.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 25 phút, ngày 27/8/2024, tại khu vực đường Q trước cảng thủy nội địa Đ thuộc thôn C, xã T, huyện T, tổ công tác Công an huyện T, tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh, trật tự. Quá trình tuần tra đã phát hiện Lương Đức M, trú tại thôn L, xã V, huyện T, đang đi bộ bên đường có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện tại túi áo bên trái phía trước mà M đang mặc có một gói nilon màu đen, bên trong có chứa 03 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược (M khai nhận đó là ma túy loại hồng phiến). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số ma túy nói trên cùng tang vật liên quan.
Về nguồn gốc ma túy, quá trình điều tra Lương Đức M đã khai nhận: Trước đó, khoảng 18 giờ 45 phút, cùng ngày do có nhu cầu sử dụng ma túy M đã đi đến khu vực cầu thuộc địa phận thôn K, xã C, huyện Q để tìm mua ma túy. Tại đây, M gặp và mua được từ một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể 03 viên ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M đi đến khu vực cửa hàng X thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T, để tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 989/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: 03 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược thu giữ trong vụ án gửi trưng cầu giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,282 gam.
Methamphetamine, nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/202022 của chính phủ.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ:
- - 03 (ba) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược (đã được niêm phong). Sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì, trên ghi “989/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong chứa 0,164 gam (không phẩy một trăm sáu mươi bốn gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A; Vỏ bao gói.
- - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple Xs Max, màu vàng, số IMEI 1: 357309097589422; số IMEI 2: 357309097944387, gắn thẻ sim số 0962866467 (đã qua sử dụng).
Bản cáo trạng số 50/CT-VKSTH-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, đã truy tố bị cáo Lương Đức M về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lương Đức M từ 12 đến 15 tháng tù; về vật chứng đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ cùng với vỏ bao gói; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, nhãn hiệu A; về án phí, buộc bị cáo Lương Đức M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Như vậy hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lương Đức M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vào ngày 27/8/2024, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 03 viên ma túy loại Methamphitamine, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Mặc dù nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn mua ma túy về cất trữ để sử dụng. Số ma tuý mà Lương Đức M tàng trữ có khối lượng 0,282 gam. Trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Lương Đức M phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma tuý, cần phải xử lý nghiêm. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự quyết định đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên toà đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng vụ án: xét thấy toàn bộ số ma túy mà bị cáo tàng trữ và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T thu giữ, là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vì vậy cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy. Riêng 01 điện thoại di động của bị cáo, quá trình điều tra xác minh không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
[5] Đối với người đàn ông mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo Lương Đức M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Đức M phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Đức M 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/8/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2024), để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì, trên ghi “989/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong chứa 0,164 gam (không phẩy một trăm sáu mươi tư gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A; Vỏ bao gói.
- - Trả lại cho bị cáo Lương Đức M 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Apple Xs Max, màu vàng, gắn thẻ sim số 0962866467 (đã qua sử dụng).
Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, có các đặc điểm như được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lương Đức M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/11/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Thị Bích Thủy |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
