Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/08/2024

“ Về tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài

Các Hội thẩm nhân dân: bà Dương Thị Thúy Vinh, ông Nguyễn Đình Cát

Thư ký phiên tòa: ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 155/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/05/2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐST-DS ngày 19/08/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị L - sinh năm 1986; Nơi cư trú: khối C, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An – có mặt.

Bị đơn: Bị đơn: anh Lê Đình T - Sinh năm 1983; Nơi cư trú: số nhà F, ngõ B, đường T, khối C, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau: chị Trương Thị L và anh Lê Đình T lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/02/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể hòa hợp nên có nguyện vọng xin ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn để ổn định cuộc sống. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Lê Khánh L1, sinh ngày 26/10/2010 và Lê Trương Q, sinh ngày 02/05/2013. Ly hôn do chị L yêu cầu mỗi người nuôi một con chung. Hiện tại cháu Lê Khánh L1 đang ở với chị L, cháu Lê Trương Q đang sống cùng anh T. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Đình T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Thành phố V phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết đúng vụ án đúng quy định tại điều 28, điều 35 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định. Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Trương Thị L được ly hôn với anh Lê Đình T. Về con: giao con chung Lê Khánh L1, sinh ngày 26/10/2010 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Giao con chung là Lê Trương Q, sinh ngày 02/05/2013 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Về án phí: buộc chị Trương Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, quan điểm của đại diện VKS, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:

1. Về thủ tục tố tụng: đây là vụ án tranh chấp ly hôn, bị đơn là Lê Đinh T1, cư trú tại khối C, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Thành phố Vinh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Sau khi thụ lý Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T1 hợp lệ, đúng quy định pháp luật.

2. Về nội dung vụ án: chị Trương Thị L và anh Lê Đình T lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/02/2009. Như vậy, hôn nhân của họ là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản cho anh T và tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng vẫn sống ly thân cho đến nay. Chị L vẫn kiên quyết xin được ly hôn với anh T. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã rất trầm trọng, mâu thuẫn đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị M được ly hôn với anh T.

- Về con: vợ chồng có 2 con chung chung là Trần Thị Q1, sinh ngày 11/10/2002 và Trần Anh Đ, sinh ngày 28/03/2015. Nay ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi con chung là Trần X thỏa thuận về việc giao con chưa thành niên sau khi ly hôn của chị M, anh H là phù hợp cần xử giao cháu Trần Anh Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với con chung Trần Thị Q1 đã đủ tuổi trưởng thành nên miễn xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con: do anh H không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nên cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị M.

- Về quyền thăm nom, gặp gỡ và chăm sóc con chung sau khi ly hôn: chị M có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc, gặp gỡ con chung anh H và người thân trong gia đình không ai được ngăn cấm.

- Về tài sản: chị M, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

- Về án phí: Buộc chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, điều 39, điều 147, khoản 3 điều 228, điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị M1.

- Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Ngô Thị M1 được ly hôn anh Trần Xuân H1

- Về con chung: Giao con chung Trần Anh Đ, sinh ngày 28/03/2015 cho anh Trần Xuân H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị M1 do anh H1 không yêu cầu. Chị M1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và gặp gỡ con chung, anh H1 và người thân trong gia đình không ai được ngăn cấm.

- Về án phí: buộc chị Ngô Thị M1 phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ do đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Vinh theo biên lai nộp tiền số 0004369 ngày 26 tháng 03 năm 2024.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An./.

Nơi gửi:

- VKSNDTP.Vinh

- Các Đương sự

- Lưu HS

- TAND tỉnh Nghệ An

- U, TP V

(nơi ĐKKH)

Lê Thị H2

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tính tình không hợp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger