|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 8 - 2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Vượng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 130/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10/05/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Ngọc Q, sinh năm 1998 (vắng mặt)
HKTT: Số nhà 4B, đường Hoàng Hoa Thám, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở: Số 330, đường Nguyễn Khuyến, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: Anh Lê Ngọc C, sinh năm 1998 (vắng mặt)
HKTT và cư trú tại: Số nhà G, ngõ C, đường N, tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 02 tháng 5 năm 2024, bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Vũ Ngọc Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Ngọc C kết hôn với nhau ngày 02/6/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn hai người được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ khoảng cuối năm 2022, nguyên nhân do anh C có mối quan hệ với người phụ nữ khác, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, thường xuyên cãi vã, chửi nhau, có nhiều bất đồng quan điểm. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 9/2023, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm không còn, chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Lê Ngọc C. Hiện anh C đi làm ăn xa, theo chị được biết anh C đi làm trong miền nam, chị và gia đình đã liên hệ với anh C nhưng đều không được.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Minh A, sinh ngày 10/12/2020. Hiện con chung đang ở cùng chị, khi ly hôn chị có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lê Ngọc C: Tòa án đã tống đạt toàn bộ các văn bản tố tụng của Toà án theo quy định của pháp luật, nhưng anh C không đến Toà án làm việc, không có bản tự khai, không tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
* Tòa án tiến hành làm việc với ông Lê Ngọc H, sinh năm 1972 (là bố đẻ anh Lê Ngọc C), ông H cung cấp như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Ngọc Q và anh Lê Ngọc C kết hôn và có đăng ký kết hôn với nhau ngày 02/6/2020 tại UBND phường T, thành phố B. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc. Về mâu thuẫn vợ chồng anh C, chị Q xảy ra từ thời gian nào thì ông không biết được. Nhưng khoảng tháng 4/2024 thì anh C và chị Q xảy ra mâu thuẫn, chị Q cho rằng anh C có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Vợ chồng anh, chị ly thân tình cảm từ đó cho đến nay. Hiện chị Q đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh C xin đi làm ăn nhưng không nói là đi làm ở đâu và làm gì. Gia đình đã liên lạc bằng số điện thoại, ứng dụng mạng xã hội cho anh C nhưng đều không được. Anh C, chị Q có 01 con chung là cháu Lê Minh A1, sinh ngày 10/12/2020. Hiện cháu A1 đang ở cùng với chị Q. Nay chị Q đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh C thì ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Toà án tiến hành làm việc với ông Nguyễn Nhất N – Tổ trưởng tổ dân phố số C, phường T, thành phố B được cung cấp:
Chị Vũ Ngọc Q, sinh năm 1998 và anh Lê Ngọc C, sinh năm 1998. Hộ khẩu thường trú: Số nhà G, ngõ C, đường N, tổ C, phường T, thành phố B. Chị Q và anh C kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B. Quá trình chung sống chị Q và anh C có mâu thuẫn hay không địa phương không nắm được. Hiện chị Q đã về nhà bố mẹ đẻ tại phường D, thành phố B. Anh C đi làm ăn, không có mặt tại địa phương nên địa phương không biết hiện anh C đi đâu, làm gì, ở đâu, khi đi làm anh C không khai báo với địa phương. Chị Q và anh C có 01 con chung là Lê Minh A1, sinh năm 2020. Hiện cháu đang do chị Q nuôi dưỡng. Nay chị Vũ Ngọc Q làm đơn đề nghị ly hôn, giải quyết nuôi con chung với anh Lê Ngọc C, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa,
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị xử cho chị Vũ Ngọc Q ly hôn với anh Lê Ngọc C. Giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Minh A1, sinh ngày 10/12/2020. Về cấp dưỡng nuôi con không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Vũ Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Vũ Ngọc Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Lê Ngọc C. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn cư trú tại thành phố B, kết quả xác minh xác định bị đơn cũng không xuất cảnh ra nước ngoài trong thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án,nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228, điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên toà.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn:
Chị Vũ Ngọc Q và anh Lê Ngọc C kết hôn ngày 02/06/2020, kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, là hôn nhân hợp pháp đúng với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ lời khai của nguyên đơn, kết quả xác minh, làm việc với chính quyền địa phương và người thân của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy chị Vũ Ngọc Q và anh Lê Ngọc C trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi nhau, có nhiều bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn không thể hòa giải và vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, anh C không có mặt để tham gia hòa giải và không có mặt để tham gia phiên tòa xét xử, đến nay chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Q và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để xử cho chị Q ly hôn anh C là phù hợp với quy định pháp luật.
[2.2] Về con chung: Chị Q và anh C có 01 con chung là Lê Minh A1, sinh ngày 10/12/2020, hiện đang do chị Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay chị Q có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, Hội đồng xét xử thấy hiện chị Q có công việc, thu nhập ổn định và con chung hiện còn nhỏ nên cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ nhiều hơn, hơn nữa anh C hiện đi làm ăn xa, không trực tiếp chăm sóc con, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Lê Minh A1, sinh ngày 10/12/2020 cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Sau khi ly hôn, anh C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Ngọc Q.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Ngọc Q và anh Lê Ngọc C ly hôn.
Về con chung: Giao cho chị Vũ Ngọc Q quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Minh A1, sinh ngày 10/12/2020.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Lê Ngọc C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
Về án phí: Chị Vũ Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001753 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
5
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Q và anh C đã mâu thuẫn và sống ly thân. Chị Q yeu cầu giải quyết ly hôn, xin được nuôi con chung. HĐXX chấp nhận
