|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Bản án số: 50/2023/HS - ST Ngày 28 - 11 - 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Viễn.
- Ông Trần Thành Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ L - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2023/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Vừ Bịa V - Sinh năm 1964; Nơi cư trú: Bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/10; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Vừa Dạ P1 (đã chết) và bà Giàng Thị H (đã chết); Bị cáo có vợ là Sộng Thị V1, có 07 con (con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án: Không, tiền sự: Bị Tòa án nhân dân huyện S áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, tại quyết định số 31/QĐ ngày 19/01/2016; đến ngày 25/6/2016 Vừ Bịa V được phép về việc đi chữa bệnh nhưng sau đó đã bỏ trốn.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 16/9/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Sùng Xua L (tên gọi khác: Sùng A T) - Sinh năm 1953; Nơi cư trú: Bản B, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/10; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Là Đảng viên – Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 117-QĐ/UBKTHU ngày 23/9/2023 của Uỷ ban kiểm tra Huyện uỷ Sông Mã; Con ông Sùng Chứ H (đã chết) và bà L Thị A (đã chết); Bị cáo có vợ là Giàng Thị C và có 11 con (con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 2000); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 16/9/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 30 phút ngày 16/9/2023 tổ công tác Công an xã B, huyện SS làm nhiệm vụ tại bản P, xã B, huyện Sông Mã phát hiện Vừ Bịa V và Sùng Xua L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay trái của L 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng (L khai nhận là Heroine vừa mua của V). Tiến hành kiểm tra đối với V, phát hiện trong lòng bàn tay trái của V số tiền 30.000 đồng (V khai nhận là tiền vừa bán ma tuý cho L), trong túi quần bên trái có 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng (V khai nhận là Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vừ Bịa V và Sùng Xua L, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 17/9/2023 tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả:
- Số bột màu trắng trong gói nilon màu xanh có khối lượng là 0,07 gam đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu V;
- Số bột màu trắng trong gói nilon màu hồng có khối lượng là 0,12 gam đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu L.
Tại bản kết luận giám định số 2215/KL ngày 19/9/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“- Mẫu ký hiệu V, L gửi giám định đều là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là V= 0,07 gam; L= 0,12 gam.
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,19 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”
Tại bản kết luận giám định số 2213/KL ngày 19/9/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“- 01 (một) tờ mệnh giá 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) có mã số là RJ 19668130;
- 01 (một) tờ mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) có mã số là PA 20845088.
Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật”.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 12/9/2023 V đem theo số tiền 120.000 đồng (là tiền do V lao động tiết kiệm mà có) một mình đi ra ngoài đường nhằm mục đích đi tìm mua ma tuý về sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Khi ra ngoài đường V xin đi nhờ xe của một người không quen biết đến xã Huổi Một, huyện Sông Mã để tìm mua ma tuý, đến địa phận xã Huổi Một thì V xuống xe rồi đi bộ vào trong bản (không biết tên bản), khi đang đi bộ V gặp một người đàn ông không rõ danh tính hỏi mua được một gói Heroine với số tiền 120.000 đồng. Mua được ma tuý V đi bộ quay về một đoạn rồi tiếp tục xin đi nhờ xe người qua đường về nhà, về đến nhà V đã trích số Heroine ra sử dụng nhiều lần, phần còn lại V gói bằng mảnh nilon màu xanh. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/9/2023 khi V đang ở nhà tại bản P, xã B thì Sùng Xua L đem theo số tiền 30.000 đồng đến hỏi mua ma tuý để sử dụng. V đồng ý và nhận của L 30.000 đồng rồi bỏ gói Heroine ra bẻ thành hai phần, một phần đưa cho L còn phần còn lại V gói bỏ vào túi quần bên trái đang mặc. Sau khi nhận ma túy L nhặt mảnh nilon màu hồng gói lại và cầm trong lòng bàn tay trái, ngay lúc đó thì tổ công tác Công an xã B, huyện Sông Mã phát hiện và bắt quả tang.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 230/CT-VKSSM ngày 15 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Vừ Bịa V về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Sùng Xua L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vừ Bịa V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vừ Bịa V từ 02 năm - 02 năm 04 tháng tù. Tuyên bố Sùng Xua L (Sùng A T) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, x, o khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Sùng Xua L từ 10 tháng - 01 năm 02 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Xử lý vật chứng: số ma túy đã được sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon và 02 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 30.000đ. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 07 giờ 40 phút, ngày 16/9/2023 đối với Vừ Bịa V và Sùng Xua L cùng vật chứng bị thu giữ là 02 gói chất bột liên liên kết màu trắng; Kết luận giám định số 2215/KL ngày 19/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,19 gam, loại Heroine”; Kết luận giám định số 2213/KL ngày 19/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận số tiền 30.000₫ thu giữ của V là tiền thật.
- - Lời khai nhận tội của các bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố các bị cáo Vừ Bịa V về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố Sùng Xua L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/9/2023 khi bị cáo Vừ Bịa V vừa có hành vi bán cho bị cáo Sùng Xua L một gói Heroine có khối lượng 0,12 gam với giá 30.000đ để bị cáo L sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, đồng thời thu giữ được trong túi quần của V một gói Heroine có khối lượng 0,07 gam mục đích để bán kiếm lời. Hành vi bị cáo Vừ Bịa V thực hiện đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù; Hành vi bị cáo Sùng Xua L thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì và khi phạm tội đã trên 70 tuổi nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm x, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đã tuổi cao, sức yếu nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo V và bị cáo L phạm tội độc lập, không đồng phạm với nhau.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, các bị cáo đều nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon và 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 30.000₫ là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Về người đàn ông bị cáo V khai là người đã bán ma túy bị cáo và hai người bị cáo khai cho bị cáo đi nhờ xe, bị cáo đều không biết tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Bị cáo Vừa Bịa V bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc từ ngày 19/01/2016, sau đó được cho đi chữa bệnh nhưng đã bỏ trốn trong thời gian đi chữa bệnh vào ngày 25/7/2016 cho đến khi bị bắt tạm giam; như vậy, V mới chấp hành được 06 tháng 06 ngày, còn phải chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tiếp là 17 tháng 24 ngày. Căn cứ vào Điều 117 Luật xử phạt vi phạm hành chính khi Toà án xử phạt tù đối với bị cáo cần phải tuyên miễn toàn bộ phần thời gian chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc còn lại là 17 tháng 24 ngày cho Vừa Bịa V.
[8] Về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất áp dụng:
Đối với mức đề xuất áp dụng đối với bị cáo Vừ Bịa V từ 02 năm 02 tháng - 02 năm 06 tháng, đối với bị cáo Sùng Xua L (Sùng A T) có mức đề xuất áp dụng hình phạt là từ 10 tháng - 01 năm 04 tháng là có phần nghiêm khắc; đặc biệt là đối với bị cáo Sùng Xua L là chưa thật sự cân nhắc về việc bản thân bị cáo là người có công với cách mạng đã được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, khi phạm tội đã trên 70 tuổi, khối lượng ma túy thực hiện hành vi phạm tội không lớn (khối lượng vừa đủ yếu tố cấu thành tội phạm), cho thấy tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi không cao. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức án đối với bị cáo V và bị cáo L thấp hơn mức án do đại diện Viện kiểm sát đề xuất áp dụng tại phiên tòa, nhằm thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật, tính nhân văn đối với người cao tuổi và đặc biệt là sự biết ơn đối với người đã có công với cách mạng (trong trường hợp của bị cáo L).
[9] Về án phí: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Vừ Bịa V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vừ Bịa V 02 năm tù.
Áp dụng điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính miễn toàn bộ thời gian chấp hành việc áp dụng biện pháp cai nghiện còn lại là 17 tháng 24 ngày cho bị cáo.
1.2 Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, o, x khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Sùng Xua L (Sùng A T) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Sùng Xua L (Sùng A T) 09 tháng tù.
Thời hạn tù đối với các bị cáo tính từ ngày 16/9/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 066782.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 30.000đ và tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 065987.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 218/QĐ – VKS ngày 15/11/2023 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/11/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Vừ Bịa V, Sùng Xua L.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 50/2023/HS - ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
