|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-6-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Hoa Lư.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Dũng
Ông Nguyễn Chí Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08/4/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 282/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Võ Thị Thảo N, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp T, xã T,huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Châu Chí M, sinh năm: 1996. Địa chỉ: 1, ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14/3/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Võ Thị Thảo N trình bày:
* Về hôn nhân:
Chị N và anh M do mai mối đi đến hôn nhân, tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn ngày 13/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh M không lo làm ăn chăm sóc cho vợ con, chỉ biết ham chơi bên ngoài, chị N nhiều lần khuyên nhưng anh M vẫn không thay đổi, vì thế mà tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, chị N bỏ về cha mẹ ruột sống từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị N xác định không còn tình cảm với anh M nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh M.
Về con chung: 01 người con là Nguyễn Ngọc Hồng T, sinh ngày 04/02/2018, đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con không yêu cầu anh M cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ khi ly hôn: không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn Nguyễn Châu Chí M: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt lần 2 tại phiên tòa không có ly do và không có ý kiến phản bác yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Võ Thị Thảo N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Võ Thị Thảo N và Nguyễn Châu Chí M, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Nguyễn Châu Chí M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Võ Thị Thảo N và Nguyễn Châu Chí M tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 13/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, hơn nữa anh M không lo lắng chăm sóc gì cho vợ, cuộc sống chị N một mình làm và lo cho con, chị N cũng đã nhiều lần khuyên anh M thay đổi để cùng nuôi dạy con nhưng anh M vẫn không thay đổi vì thế mà chị N và anh M đã xa nhau từ năm 2020 cho đến nay, kể từ khi xa nhau anh M không có đến để khuyên hay có thái độ hàn gắn tình cảm với chị N, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng chị N vẫn cương quyết ly hôn với anh M. Đối với anh M từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa anh M vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu của chị N. Điều đó cho thấy anh M đã từ bỏ cuộc hôn nhân này với chị N, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị N và anh M là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc chị N yêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ.
[3] Về con chung: Có hai 01 người con Nguyễn Ngọc Hồng T, sinh ngày 04/02/2018, con chung đang sống với chị N, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con Nguyễn Ngọc Hồng T. Yêu cầu này của chị N là có cơ sở bởi lẽ, từ khi xa nhau đến nay con sống chung với chị N được chị N nuôi dưỡng chu đáo, để ổn định cho cháu T, Hội đồng xét xử cần giao con chung Nguyễn Ngọc Hồng T, sinh ngày 04/02/2018 cho chị N được tiếp tục nuôi đưỡng. Về cấp dưỡng chị N không yêu cầu anh M cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ khi ly hôn: Không có, không xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Châu Chí M từ khi thụ lý vụ án đến nay mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định trong đó có việc thông báo cho anh M biết việc yêu cầu nuôi con, tình trạng tài sản chung và nợ khi ly hôn nhưng anh M cũng không có ý kiến hay phản bác yêu cầu của chị N về vấn đề chị N được nuôi con và tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn Võ Thị Thảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: cho Võ Thị Thảo N được ly hôn với Nguyễn Châu Chí M.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Hồng T, sinh ngày 04/02/2018 cho chị N nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Chị Võ Thị Thảo N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Châu Chí M trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
- Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Võ Thị Thảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng . Được khấu trừ 300.000 đồng mà Võ Thị Thảo N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001555, ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Võ Thị Thảo N đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/6/2024). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Hoa Lư |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho ly hôn