Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 27/09/2024

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2024/QÐST – HNGĐ ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N – sinh năm: 1988 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: anh Phạm Văn H – sinh năm: 1983 (vắng mặt)
  • Đều HKTT: Thôn N, xã P, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn, biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn trình bày: Về tình cảm: chị kết hôn với anh Phạm Văn H ở thôn N, xã P. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Ứ, TP . năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chị làm ăn sinh sống tại địa phương, cuộc sống chung hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2015, anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không có cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, va chạm, không quan tâm đến vợ con. Hơn nữa, anh còn ham chơi, không chịu làm ăn lo cho gia đình. Chị cũng khuyên bảo, động viên anh nhiều nhưng anh không thay đổi, khiến cuộc sống chung rất mệt mỏi và áp lực. Anh chị sống ly thân từ tháng 8/2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị không ai liên lạc với ai, mỗi người một cuộc sống. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn được ly hôn, Mong Tòa xem xét giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: chúng chị có 02 con chung là cháu Phạm Thảo H1 – sinh ngày: 16/7/2014 và cháu Phạm Đức D – sinh ngày: 08/9/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu H1 ở với chị còn cháu D ở với anh H. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng giữ nguyên việc nuôi con như trước khi ly hôn, chị xin được nuôi cháu H1 còn cháu D anh H là người nuôi dưỡng. Do cả hai đều nuôi con nên chị không có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công sức, công nợ chung: không đề nghị Toà án giải quyết.

Về án phí: chị N đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Phạm Văn H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh. Tuy nhiên, anh H vẫn không đến Tòa án làm việc do đó không có quan điểm trình bày.

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã P xác định: anh H và chị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, ngày 04/10/2013. Sau khi kết hôn, cuộc sống của anh chị hòa thuận không thấy điều tiếng gì. Theo nắm bắt tại địa phương thì nhiều năm nay, anh H và chị N xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nguyên nhân cụ thể là gì thì địa phương không nắm rõ. Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Phạm Thảo H1 – sinh ngày: 16/7/2014 và cháu Phạm Đức D – sinh ngày: 08/9/2018. Hiện cháu D đang ở cùng anh H ở P còn cháu H1 ở cùng chị N và không sinh sống tại địa phương. Quan điểm của chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Tại phiên toà, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên ý kiến không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Anh H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh H. Về con chung: giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Thảo H1 – sinh ngày: 16/7/2014; giao anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Đức D – sinh ngày: 08/9/2018. Tạ hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H, chị N. Về tài sản, công sức, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị N đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập anh Phạm Văn H đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự; quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên toà hôm nay, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

[2] Về hôn nhân: chị N và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống chung của anh chị không hòa thuận, hạnh phúc. Nguyên nhân theo chị N trình bày không có cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh H không quan tâm, chăm lo cho vợ con nên thường xuyên va chạm khiến cuộc sống áp lực, mệt mỏi. Nay chị N nhận thấy không còn tình cảm với anh H nên đã làm đơn xin ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: chị N và anh H có 02 con chung là cháu Phạm Thảo H1 – sinh ngày: 16/07/2014 và Phạm Đức D – sinh ngày: 08/9/2018. Từ khi anh chị sống ly thân thì cháu H1 ở với chị N, cháu D ở với anh H. Quá trình làm việc, chị N có quan điểm xin giữ nguyên việc nuôi con, chị tiếp tục nuôi cháu H1; anh H tiếp tục nuôi cháu D và không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con. Anh H không có quan điểm trình bày. Cháu H1 có quan điểm xin được ở với mẹ N. Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ nguyện vọng của các đương sự, nguyện vọng của con nhỏ và tình hình thực tế cuộc sống của các con nên cần giữ nguyên việc nuôi con như trước khi ly hôn là giao chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H1; Giao anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu D. Tạm hoãn việc nuôi con đối với chị N và anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản, công sức và công nợ: Chị N trình bày là không có gì, không đề nghị Tòa án giải quyết; anh P không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị N phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

  1. Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Phạm Văn H;
  2. Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung là cháu Phạm Thảo H1 – sinh ngày: 16/7/2014 và cháu Phạm Đức D – sinh ngày: 08/9/2018. Sau khi ly hôn, giao chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Thảo H1; Giao anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đức D cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H, chị N cho đến khi con chung trưởng thành, khoẻ mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.

Về quyền thăm hỏi con chung: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

  1. Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này, các đương sự có yêu cầu đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
  2. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp tại Biên lai thu số 0011786 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Chi cục THADS Ứng Hoà;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thanh Minh

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ - ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger