Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đồng

Bà Phạm Thị Thu Trang

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Hằng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/9/2003; nơi sinh tỉnh Bến Tre; tên gọi khác: không. Nơi cư trú: 333C, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ; Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; Vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không.

    - Đặc điểm nhân thân khác: Ngày 05/3/2024, Công an huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/3/2024, số tiền phạt 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024 cho đến nay (có mặt).

  2. Nguyễn Nhật L, sinh ngày 28/9/1995, tại tỉnh Bến Tre; tên gọi khác: không. Nơi cư trú: số 212, ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1970; Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; Vợ Nguyễn Thị M, sinh năm 1997, có 03 người con sinh năm 2019, 2022, 2024; Tiền án, tiền sự: không.

    - Đặc điểm nhân thân khác:

    • + Ngày 31/8/2023, Công an huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/8/2023, số tiền phạt 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng, (đã đóng phạt).
    • + Ngày 29/12/2023, Ủy ban nhân dân xã Thuận Điền ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 353/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/12/2023, số tiền phạt 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/9/2024 cho đến nay (có mặt).

  3. Nguyễn Minh Q, sinh ngày 30/4/1998, tại tỉnh Bến Tre; tên gọi khác: không. Nơi thường trú: số 7A khu phố 1, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Nơi ở hiện nay: ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn M, sinh năm 1974. Mẹ: Trương Thị A, sinh năm 1978; Vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không.

    - Đặc điểm nhân thân khác:

    • + Ngày 29/11/2011, Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1655/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trường Giáo dưỡng đối về hành vi Cướp tài sản, trong thời hạn 24 tháng.
    • + Tại Bản án số 52/2016/HSST ngày 18/8/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 17/6/2019.
    • + Ngày 05/3/2024, Công an huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/3/2024, số tiền phạt 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024 cho đến nay (có mặt).

* Bị hại:

  • - Ông Nguyễn Tùng L, sinh năm 1980. Nơi cư trú: k3/1 tổ 79, khu phố 4, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Văn Trường P, sinh năm: 2005. Nơi cư trú: ấp L1, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt).
  • - Anh Triệu Quốc V, sinh năm 2001. Nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt).
  • - Chị Trần Thị Nhựt L, sinh ngày 10/5/2007. Nơi cư trú: ấp A1, xã A1, huyện B, tỉnh Bến Tre. Người đại diện của chị L: Bà Trần Thị Thùy T, sinh năm 2000. Nơi cư trú: ấp A, xã An H, huyện Ba T, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 17/8/2023, một người bạn tên Toàn (không rõ họ tên, địa chỉ) đến phòng trọ của Nguyễn Văn T thuộc Nhà trọ Hương Thùy ở ấp Phú Điền, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre chơi. Tại đây, Toàn cho T 01 gói ma túy (loại ma túy đá). Sau khi Toàn ra về, T lấy một ít ma túy ra để sử dụng và cất giữ số ma túy còn lại. Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 18/8/2023, trong lúc T đang ngồi chơi với Nguyễn Nhật L tại phòng trọ của T thì có Nguyễn Văn P (sinh ngày 05/4/2005), Trần Thị Nhựt L (tên thường gọi là Tuyết Nhi, sinh ngày 10/5/2007) và Trần Văn Kha (sinh ngày 11/01/2010) đến chơi. Lúc này, L đi về phòng trọ của L lấy cho T cái quạt máy, T nhờ Phúc đi mua nước đá. T ở lại trong phòng trọ và lấy từ trong túi quần T đang mặc ra gói ma túy rồi bỏ hết vào trong nỏ. Khi L và Phúc quay trở lại, T dùng bật lửa đốt ma túy lên và hút trước. Kha không sử dụng ma túy bỏ ra chỗ khác ngồi bấm điện thoại. Lúc này, T đưa bộ dụng cụ cho L, Phúc, L cùng sử dụng ma túy chung với T, hút xoay vòng 03 lượt thì T và L có việc ra khỏi phòng. Khoảng 05 phút sau, T quay trở lại thì thấy ma túy đã được sử dụng hết nên kêu Phúc đem bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên gác cất.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, do đã hết ma túy sử dụng nên T gọi cho L hỏi “anh còn đồ không, cứu em một cái” tức hỏi L còn ma túy không để mang qua cho T sử dụng cùng. Một lúc sau, L mang nỏ thủy tinh có chứa ma túy bên trong sang phòng trọ của T. Ma túy này L mua vào khoảng 10 giờ ngày 18/8/2023 tại xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre của một người nam thanh niên tên Đen (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 200.000 đồng, L mang về bỏ ma túy vào nỏ và sử dụng một phần, phần ma túy còn lại vẫn còn ở trong nỏ. Đến nơi nhưng không thấy T ở phòng, L đi lên gác và thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của T, L tháo phần đầu của bộ dụng cụ này gắn vào nỏ mà L mang theo. Lúc này có Triệu Quốc V (sinh năm 2001) lên gác, L đốt ma túy lên hút một hơi rồi đưa cho V hút, khi L và V đang sử dụng ma túy thì T về đến và lên gác, V đi xuống ra về. L hút thêm một hơi nữa rồi đưa bình cho T hút. T kêu L lên gác và cả hai cùng sử dụng ma túy cho đến khi hết số ma túy trong nỏ.

Sau khi sử dụng ma túy xong, khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/8/2023, Nguyễn Văn T rủ Nguyễn Nhật L đi trộm cắp tài sản để kiếm tiền chia nhau tiêu xài, T kêu L chở T từ phòng trọ tại Nhà trọ Hương Thùy đến cầu Ba Lạt ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, khi nào trộm được tài sản sẽ liên lạc kêu L đến đón, L đồng ý. L điều khiển xe mô tô (không rõ biển số, không thu giữ được) chở T đến cầu Ba Lạt rồi quay trở về phòng trọ đợi.

Sau đó, T đi bộ dọc Quốc lộ 57C, hướng từ cầu Ba Lạt về xã Thuận Điền, khi đến khu vực thuộc ấp Mỹ Thạnh, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, T phát hiện xe ô tô biển số 51A-659.39 của ông Nguyễn Tùng L, sinh năm 1980, ĐKTT: Khu phố 4, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, đang đỗ trước nhà bà Đỗ Thị Bé Tám (mẹ vợ của ông L) không người trông coi. T dùng cục đá xanh ở gần đó đập phần kính nhỏ phía trên cửa trước bên phải xe ô tô, T đưa tay vào định lấy máy tính bảng thì máy tính bảng bị rớt xuống phía dưới xe. T tiếp tục đập vỡ kính cửa sau bên phải xe ô tô, lấy cái khay nhựa màu đen để gần đó kê để đứng lên và chui vào trong xe ô tô lấy 01 ba lô bên trong có 01 máy tính xách tay, 01 điện thoại di động, 01 ví màu hồng có 01 Căn cước công dân, 05 thẻ ATM, 01 ví màu đỏ có 01 thẻ Token, 5.000.000 đồng và 01 máy tính bảng rồi chui ra khỏi xe ô tô. T dùng cái chăn trong xe ô tô để quấn, che bên ngoài cái ba lô lại rồi đi sang con hẻm bên cạnh điện thoại kêu L đến đón.

Đến nơi L thấy T cầm vật gì đó và bọc cái mền bên ngoài, L biết đây là tài sản T vừa trộm được nhưng không biết là gì, L chở T về quán cà phê gội đầu Hướng Dương thuộc ấp Phú Điền, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tại đây T kiểm tra tài sản vừa trộm được. Đến sáng cùng ngày, T lấy 4.500.000 đồng và mang máy tính xách tay đến địa bàn thành phố Bến Tre bán được 2.000.000 đồng, T đã tiêu xài hết số tiền trên. Đối với các giấy tờ khác, T bỏ vào ba lô và vứt xuống sông tại khu vực cầu Ba Lạt. Riêng L được T chia cho 01 máy tính bảng, 01 điện thoại di động và 500.000 đồng; L đem điện thoại cầm được 1.500.000 đồng, L đã tiêu xài hết số tiền trên; đối với máy tính bảng, khi biết lực lượng Công an đang truy tìm, L đã vứt bỏ.

Vật chứng thu giữ:

  • - Tạm giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp phòng trọ của Nguyễn Văn T vào ngày 19/8/2023:
    • + 01 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép, sọc ngang màu xanh dương, kích thước (4,5 x 04)cm, bên trong có dính các hạt li ti nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS2 - 2129627.
    • + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: phần thân bằng lọ thủy tinh có chữ “Yến Sào Cao Cấp SURE CAE”, phần thân trên được gắn với cổ chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ, có vòng khoanh viền màu đen, trên nắp có hai lỗ, một lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen, một lỗ gắn với nỏ thủy tinh bên trong có dính chất nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS2 – 2129628.
    • + 02 bật lửa đã qua sử dụng (01 cái màu xanh dương có chữ “PINGUO” đã mất ốp đậy kim loại và đá lửa, có gắn một ống tự chế thường gọi là ống tiêm và 01 cái màu vàng còn đầy đủ bộ phận nhưng hết gas, trên ốp đậy kim loại có chữ “VIWAX”; 01 túi nylon màu đen (loại túi xốp); 01 hộp giấy hình trụ tròn cao 16cm, đường kính 5,5cm có nắp đậy; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, đầu còn lại được cắt nhọn, dài 08cm.
  • - Tạm giữ tại quán cà phê gội đầu Hướng Dương thuộc ấp Phú Điền, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm: 01 cái bóp (ví), loại nữ, nhãn hiệu PRETTYZYS, màu hồng; 01 cái bóp (ví), loại nữ, nhãn hiệu CHARLES & KEITH, màu đỏ. Tạm giữ tại Cửa hàng mua bán điện thoại di động Nhựt Trường tại xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, 128GB/6GB, vỏ điện thoại màu đen, loại cảm ứng. Đã trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Tùng L.
  • - Tại Kết luận giám định số 730/2023/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:
    • - Hạt li ti màu trắng dính trong 01 gói nylon được niêm phong trong túi niêm phong NS2-2129627 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; không xác định được khối lượng do mẫu tồn tại ở dạng vết.
    • - Chất dính trong nỏ thủy tinh được niêm phong trong túi niêm phong NS2-2129628 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; không xác định được khối lượng do mẫu tồn tại ở dạng vết.
  • - Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 17.090.000 đồng.
  • - Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 19/8/2023, T bỏ đi không rõ ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm đã ra Quyết định truy tìm đối với T. Đến 14 giờ 40 phút ngày 01/3/2024, tại nơi ở của Nguyễn Minh Q ở ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T và Nguyễn Minh Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Cụ thể như sau:
    • + Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/02/2024, T đi xe ôm đến khu vực Vòng xoay Bùng Binh Mũ, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre gặp một thanh niên tên L (không rõ họ tên và địa chỉ) mua 01 gói ma túy (loại ma túy đá) với giá 300.000 đồng. T mang gói ma túy đến chân cầu Mỹ Hóa, thành phố Bến Tre lấy ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại T cất vào trong ví da và để vào trong túi quần phía sau bên phải T mặc. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 01/3/2024 T đến nhà Q ở ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre chơi Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra thì phát hiện T cất giấu 01 gói ma túy trong cái ví da để ở túi phía sau quần T đang mặc.
    • + Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 01/3/2024, Q một mình đến khu vực Vòng xoay Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre gặp một thanh niên tên gọi L Kem (không rõ họ tên và địa chỉ) mua 01 gói ma túy (loại ma túy đá) với giá 300.000 đồng. Q mang gói ma túy về nhà ở ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, Q lấy hết ma túy cho vào nỏ thủy tinh và đốt lên sử dụng một mình, Q sử dụng một phần ma túy, phần ma túy còn lại vẫn ở trong nỏ, Q đem bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất vào trong một hộp kim loại. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày T đến nhà Q chơi, đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy và số ma túy còn lại trong nỏ.
  • - Tạm giữ vật chứng:
    • Tạm giữ của Nguyễn Văn T: 01 gói nylon màu trắng kích thước (2,4 x 1,9) cm được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rãnh khép, có sọc màu xanh, bên trong chứa chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M; 01 ví da màu nâu đen có chữ “BALLY NEW FASHION” đã qua sử dụng; 01 quần jean màu đen, phía sau bên phải lưng quần có chữ “TCS”, quần có 02 túi phía trước và 02 túi phía sau, phía trước 02 ống quần được tạo kiểu nhiều vết rách.
    • Tạm giữ của Nguyễn Minh Q: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có đặc điểm: 01 ly thủy tinh, trên miệng ly có gắn 01 cổ chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, giữa vị trí miệng ly và cổ chai có quấn cố định băng keo màu đen, trên nắp chai có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng, bên trong nỏ thủy tinh có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3, mã sô 21593563; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn, kích thước dài 3,2cm, đường kính 0,7cm; 01 bật lửa; 01 hộp kim loại màu vàng đồng, kích thước (7,5 x 10 x 18) cm.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm tiếp tục tạm giữ các vật chứng nêu trên và mẫu vật còn lại sau giám định (mẫu vật ký hiệu NS3 có khối lượng 0,0822 gam; mẫu vật ký hiệu M có khối lượng 0,0742 gam) để xử lý theo quy định pháp luật.
  • - Tại Bản kết luận giám định số 161/2024/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:
    • - Tinh thể màu trắng chứa trong 01 nỏ thủy tinh gắn trên bộ dụng cụ sử dụng ma túy được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3, mã số 21593563 gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng: 0,1258 gam.
    • - Tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói nylon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M, gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng: 0,1324 gam.

Các bị cáo, bị hại đồng ý với các kết quả giám định, kết quả định giá tài sản không yêu cầu gì khác.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Tùng L yêu cầu bị cáo T, L liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 21.130.000 đồng gồm giá trị tài sản bị chiếm đoạt không tìm lại được là 20.180.000 đồng và giá trị kính xe bị đập vỡ là 950.000 đồng. Bị cáo T, L đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nhưng hiện chưa có khả năng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo L đã tác động gia đình nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng để bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại.

Bị hại Nguyễn Tùng L có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Nhựt L.

Bản cáo trạng số 45/CT-VKSGT, ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố:

Bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Nhật L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

a) Về trách nhiệm hình sự

  • - Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
    • + Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản.
    • + Bị cáo Nguyễn Nhật L phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản.
    • + Bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Hình phạt:
    1. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T
    2. Hình phạt chính:

      • + Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
      • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù.
      • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
      • + Áp dụng Điều 55 BLHS, đề nghị HĐXX tổng hợp hình phạt của các tội danh nêu trên, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

      Hình phạt bổ sung: không.

    3. Đối với bị cáo Nguyễn Nhật L
    4. Hình phạt chính:

      • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
      • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
      • + Áp dụng Điều 55 BLHS, đề nghị HĐXX tổng hợp hình phạt của hai tội danh nêu trên, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

      Hình phạt bổ sung: không.

    5. Đối với bị cáo Nguyễn Minh Q
    6. Hình phạt chính: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù.

      Hình phạt bổ sung: không.

  • b) Xử lý vật chứng
  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

    • - Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm đã trả cho chủ sở hữu ông Nguyễn Tùng L: 01 cái bóp (ví), loại nữ, nhãn hiệu PRETTYZYS, màu hông; 01 cái bóp (ví), loại nữ, nhãn hiệu CHARLES & KEITH, màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, 128GB/6GB, vỏ điện thoại màu đen, loại cảm ứng.
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 gói nylon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rảnh khép, sọc ngang màu xanh dương.
      • + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: phần thân bằng lọ thủy tinh có chữ “Yến Sào Cao Cấp SURE CAE”, phần thân trên được gắn với cổ chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ, có vòng khoanh viền màu đen, trên nắp có hai lỗ, một lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen, một lỗ gắn với nỏ thủy tinh bên trong có dính chất là ma túy, được niêm phong trong phong bì số 730/2023 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Huỳnh Thanh Nhàn và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
      • + 02 bật lửa đã qua sử dụng (01 cái màu xanh dương có chữ “PINGUO” đã mất ốp đậy kim loại và đá lửa, có gắn một ống tự chế thường gọi là ống tiêm và 01 cái màu vàng còn đầy đủ bộ phận nhưng hết gas, trên ốp đậy kim loại có chữ “VIWAX”.
      • + 01 túi nylon màu đen (loại túi xốp).
      • + 01 hộp giấy hình trụ tròn cao 16cm, đường kính 5,5cm có nắp đậy.
      • + 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, đầu còn lại được cắt nhọn, dài 08cm.
      • + 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn, kích thước dài 3,2cm, đường kính 0,7cm.
      • + 01 bật lửa; 01 hộp kim loại màu vàng đồng, kích thước (7,5 x 10 x 18) cm.
      • + 01 ví da màu nâu đen có chữ “BALLY NEW FASHION” đã qua sử dụng.
      • + 01 quần jean màu đen, phía sau bên phải lưng quần có chữ “TCS”, quần có 02 túi phía trước và 02 túi phía sau, phía trước 02 ống quần được tạo kiểu nhiều vết rách.
      • + Tinh thể màu trắng ký hiệu M có khối lượng 0,0742 gam, phong bì ký hiệu M và vỏ bao gói nylon bị cắt cạnh được niêm phong trong phong bì số 161/2024-M có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Tống Viết Minh Huấn và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
      • + 01 ly thủy tinh, trên miệng ly có gắn 01 cổ chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, giữa vị trí miệng ly và cổ chai có quấn cố định băng keo màu đen, trên nắp chai có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng, bên trong nỏ thủy tinh có chứa ma túy có khối lượng 0,0822 gam, được niêm phong trong phong bì số 161/2024-NS3 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Tống Viết Minh Huấn và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
    • (các vật chứng nêu trên đã được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024 của Công an huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).
  • c) Về trách nhiệm dân sự:
  • Bị hại Nguyễn Tùng L yêu cầu bị cáo T, L liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 21.130.000 đồng gồm giá trị tài sản bị chiếm đoạt không tìm lại được là 20.180.000 đồng và giá trị kính xe bị đập vỡ là 950.000 đồng. Bị cáo T, L đồng ý liên đới bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Bị cáo T và L đồng ý thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại theo phần giá trị tài sản chiếm đoạt mà các bị cáo được nhận. Cụ thể, bị cáo L có trách nhiệm bồi thường 7.300.000 đồng. Bị cáo T bồi thường giá trị các tài sản bị các chiếm đoạt và gây thiệt hại cho bị hại còn lại là 13.830.000 đồng. Ghi nhận trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo L bồi thường cho bị hại 2.000.000 đồng

    Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587 Bộ luật Dân sự đề nghị buộc bị cáo L có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường 5.300.000 đồng, bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường 13.830.000 đồng cho bị hại L.

  • - Lời nói sau cùng của các bị cáo đều cảm thấy rất ăn năn, hối hận do hành vi mình gây ra, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo và bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Tùng L, người làm chứng Nguyễn Văn P, Triệu Quốc V, Trần Thị Nhựt L vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra bị hại, những người làm chứng đã có lời khai rõ ràng, nên sự vắng mặt của bị hại, những người làm chứng không làm trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292, và Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo T, L, Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ khác của Cơ quan điều tra đã thu thập.

Do vậy, có cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/8/2023, Nguyễn Văn T có hành vi cung cấp ma túy (loại ma túy đá), cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và sử dụng phòng trọ nơi T ở tại ấp Phú Điền, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre để làm địa điểm cho Nguyễn Nhật L, Nguyễn Văn P, Trần Thị Nhựt L cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Nhật L có hành vi cung cấp ma túy (loại ma túy đá), cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, Nguyễn Văn T có hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và sử dụng phòng trọ nơi T ở tại ấp Phú Điền, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre để làm địa điểm cho Triệu Quốc V, Trần Thị Nhựt L cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T và L. Tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên, L là người đã đủ 13 tuổi nhưng dưới 18 tuổi.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/8/2023, tại ấp Mỹ Thạnh, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật L có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 22.090.000 đồng của ông Nguyễn Tùng L.

Vào lúc 14 giờ 40 phút ngày 01/3/2024, tại ấp Mỹ An, xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm phát hiện Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1324 gam Methamphetamine, Nguyễn Minh Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,1258 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Nguyễn Nhật L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản quy định” tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Nguyễn Minh Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

- Các bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng các bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể:

Bị cáo T, ngày 05/3/2024 bị Công an huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/3/2024; số tiền phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

Bị cáo L:

  • +Ngày 31/8/2023, Công an huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/8/2023, số tiền phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng, (đã đóng phạt).
  • + Ngày 29/12/2023, Ủy ban nhân dân xã Thuận Điền ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 353/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/12/2023, số tiền phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

Bị cáo Q:

  • + Ngày 29/11/2011, Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1655/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trường Giáo dưỡng về hành vi Cướp tài sản, trong thời hạn 24 tháng.
  • + Tại Bản án số 52/2016/HSST ngày 18/8/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 17/6/2019.
  • + Ngày 05/3/2024, Công an huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/3/2024, số tiền phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo T, L, Q ngoài tình tiết định tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo T thành khẩn khai nhận về hành vi của bị cáo nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo L thành khẩn khai nhận về hành vi của bị cáo, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo đang nuôi con nhỏ, bị cáo có ông ngoại và bác ruột là liệt sỹ, có bác ruột là T binh hạng 4/4, bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Q thành khẩn khai nhận về hành vi của bị cáo, nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Qua phân tích xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định để có thời gian cải tạo, giáo dục, đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm. Mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm đã trả cho chủ sở hữu ông Nguyễn Tùng L: 01 cái bóp (ví), loại nữ, nhãn hiệu PRETTYZYS, màu hồng; 01 cái bóp (ví), loại nữ, nhãn hiệu CHARLES & KEITH, màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, 128GB/6GB, vỏ điện thoại màu đen, loại cảm ứng là phù hợp.

Đối với các vật chứng đang tạm giữ gồm:

  • - 01 (một) phong bì số 730/2023 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Huỳnh Thanh Nhàn, và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, bên trong có chứa (một) gói ny lon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rành khép, sọc ngang màu xanh dương và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy được cấu tạo gồm: thân bằng lọ thủy tinh có chữ “ yến sào Cao cấp SURE CAE", phần thân trên được gắn với cổ chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ, có vòng khoanh viền màu đen, trên nắp có hai lỗ, một lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen, một lỗ gắn với nỏ thủy tinh.
  • - 02 (hai) bật lửa đã qua sử dụng (01 cái màu xanh dương có chữ “PINGUO” đã mất ốp đậy kim loại và đá lửa, có gắn một ống tự chế thường gọi là ống tiêm và 01 cái màu vàng còn đầy đủ bộ phận nhưng hết gas, trên ốp đậy kim loại có chữ “VIWAX” được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2-2129629.
  • - 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn, kích thước dài 3,2cm, đường kính 0,7cm.
  • - 01 (một) bật lửa có hình quả táo; 01 (một) hộp kim loại màu vàng đồng, kích thước (7,5 x 10 x 18) cm.
  • - 01 (một) ví da màu nâu đen có chữ “BALLY NEW FASHION” đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) quần jean màu đen, phía sau bên phải lưng quần có chữ “TCS”, quần có 02 túi phía trước và 02 túi phía sau, phía trước 02 ống quần được tạo kiểu nhiều vết rách.
  • - 01 túi nylon màu đen (loại túi xốp); 01 hộp giấy hình trụ tròn cao 16cm, đường kính 5,5cm có nắp đậy; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, đầu còn lại được cắt nhọn, dài 08cm được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệ NS2, mã số NS1/2129630.
  • - 01 (một) phong bì số 161/2024-M có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh Tinh, Tống Viết Minh Huấn và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre bên trong có chứa mẫu vật sau giám định (ký hiệu M: 0,0742 gam) là ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói.
  • - 01 (một) phong bì số 161/2024-NS3 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Tống Viết Minh Huấn và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, bên trong có chứa mẫu vật sau giám định (Mẫu vật ký hiệu NS3, mã số 21593563; 0,0822 gam) là ma túy loại Methamphetamine và túi niêm phong cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Là vật cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L yêu cầu bị cáo T và bị cáo L liên đới trách nhiệm bồi thường thiệt do tài sản bị chiếm đoạt và thiệt hại với số tiền 21.130.000 (hai mươi mốt triệu, một trăm ba mươi nghìn) đồng. Tại tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, phân chia trách nhiệm bồi thường theo giá trị tài sản được chia sau khi trộm là phù hợp. Cụ thể bị cáo L có trách nhiệm bồi thường cho bị hại 7.300.000 đồng. Phần thiệt hại còn lại bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 13.800.000 (mười ba triệu, tám trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bị cáo L đã nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng để bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại theo biên lai thu tiền số 0000784 ngày 23/8/2024 của Chi Cục thi hành án huyện Giồng Trôm. Do đó, bị cáo L có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 5.300.000 (năm triệu, ba trăm nghìn) đồng.

[9] Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh Q vào ngày 01/3/2024; của Nguyễn Nhật L, Triệu Quốc V, Nguyễn Văn P và Trần Thị Nhựt L vào ngày 18/8/2024, Công an huyện Giồng Trôm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với hành vi đập cửa kính xe ô tô của ông Nguyễn Tùng L để trộm cắp tài sản vào ngày 19/8/2023, do giá trị tài sản bị thiệt hại là 950.000 đồng, T không có tiền án, tiền sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T là phù hợp.

Việc Nguyễn Văn T khai được người tên Toàn (không rõ họ tên, địa chỉ) cho 01 gói ma túy vào ngày 17/8/2023 và mua 01 gói ma túy của người tên L (không rõ họ tên, địa chỉ) vào ngày 29/02/2024; Nguyễn Nhật L khai mua 01 gói ma túy của người tên Đen (không rõ họ tên, địa chỉ) vào ngày 18/8/2023; Nguyễn Minh Q mua 01 gói ma túy của người tên L Kem (không rõ họ tên, địa chỉ) vào ngày 01/3/2024. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những đối tượng trên nên không xử lý trong vụ án này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm đã chuyển đến bộ phận nghiệp vụ để tiếp tục xác minh, làm rõ, nếu có vi phạm sẽ được xử lý sau.

[10] Về án phí: Các bị cáo T, L, Q mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Bị cáo T có nghĩa vụ nộp án phí dân dự sơ thẩm có giá ngạch là 13.830.000 đồng x 5% = 691.500 (sáu trăm chín mươi mốt nghìn, năm trăm) đồng. Bị cáo L có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Trộm cắp tài sản.
    1. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    2. Phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    4. Phạt bị cáo 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    5. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    6. Phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

      Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn T chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.

  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật L phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Trộm cắp tài sản.
    1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    2. Phạt bị cáo 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    4. Phạt bị cáo 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

      Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Nhật L chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2024.

  3. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Phạt bị cáo 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.

  4. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (một) phong bì số 730/2023 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Huỳnh Thanh Nhàn, và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, bên trong có chứa (một) gói ny lon màu trắng được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rành khép, sọc ngang màu xanh dương và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy được cấu tạo gồm: thân bằng lọ thủy tinh có chữ “ yến sào Cao cấp SURE CAE", phần thân trên được gắn với cổ chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ, có vòng khoanh viền màu đen, trên nắp có hai lỗ, một lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen, một lỗ gắn với nỏ thủy tinh.
    • - 02 (hai) bật lửa đã qua sử dụng (01 cái màu xanh dương có chữ “PINGUO" đã mất ốp đậy kim loại và đá lửa, có gắn một ống tự chế thường gọi là ống tiêm và 01 cái màu vàng còn đầy đủ bộ phận nhưng hết gas, trên ốp đậy kim loại có chữ “VIWAX” được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS2, mã số NS2-2129629.
    • - 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn, kích thước dài 3,2cm, đường kính 0,7cm.
    • - 01 (một) bật lửa có hình quả táo; 01 (một) hộp kim loại màu vàng đồng, kích thước (7,5 x 10 x 18) cm.
    • - 01 (một) ví da màu nâu đen có chữ “BALLY NEW FASHION” đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) quần jean màu đen, phía sau bên phải lưng quần có chữ “TCS”, quần có 02 túi phía trước và 02 túi phía sau, phía trước 02 ống quần được tạo kiểu nhiều vết rách.
    • - 01 túi nylon màu đen (loại túi xốp); 01 hộp giấy hình trụ tròn cao 16cm, đường kính 5,5cm có nắp đậy; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, đầu còn lại được cắt nhọn, dài 08cm được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệ NS2, mã số NS1/2129630.
    • - 01 (một) phong bì số 161/2024-M có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh Tinh, Tống Viết Minh Huấn và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre bên trong có chứa mẫu vật sau giám định (ký hiệu M: 0,0742 gam) là ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói.
    • - 01 (một) phong bì số 161/2024-NS3 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Tống Viết Minh Huấn và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, bên trong có chứa mẫu vật sau giám định (Mẫu vật ký hiệu NS3, mã số 21593563; 0,0822 gam) là ma túy loại Methamphetamine và túi niêm phong cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
    • (các vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024 của Công an huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).
  5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và Điều 587 Bộ Luật Dân sự:

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Tùng L số tiền 13.830.000 (mười ba triệu, tám trăm ba mươi nghìn) đồng.

    Buộc bị cáo Nguyễn Nhật L có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Tùng L số tiền 7.300.000 (bảy triệu, ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng theo biên lai thu tiền số 0000784 ngày 23/8/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Bị hại Nguyễn Tùng L được nhận số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng theo biên lai nêu trên từ Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Bị cáo Nguyễn Nhật L có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Tùng L số tiền còn lại là 5.300.000 (năm triệu, ba trăm nghìn) đồng.

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bị cáo còn phải trả lãi đối với các khoản tiền chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong.

  6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc:

    Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật L, Nguyễn Minh Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Nguyễn Văn T có trách nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 691.500 (sáu trăm chín mươi mốt nghìn, năm trăm) đồng.

    Bị cáo Nguyễn Nhật L có trách nhiệm nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

  7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Giồng Trôm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - Bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát công an huyện Giồng Trôm;
  • - Bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát công an tỉnh Bến Tre.
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Ngoan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang Phạm Thành Đồng Nguyễn Thị Ngoan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy, Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger