|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày: 24-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Hùng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tạ Kỳ Trung;
- Ông Lê Đình Nhung.
Thư ký phiên tòa: ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên tòa: ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1972, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết); vợ: Nguyễn Thị T1; con có 02 người; tiền án: Tại Bản án số 03/2013/HSST, ngày 24/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: không. Về nhân thân: tại Bản án số 15/1992/HSST ngày 17/3/1992 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 349/1996/STHS ngày 17/9/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 51/2008/HSST ngày 14/10/2008 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 111/2011/HSST ngày 14/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam ngày 25/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T cho đến nay. (có mặt)
Bị hại: ông Trương Văn L1, sinh năm 1978; trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1956; trú tại: khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 01/11/2023, Nguyễn Văn L mang theo 01 cây kiềm kim loại và 02 bao nylon điều khiển xe mô tô biển số 70F1- 084.83 đi một mình từ nhà tại khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến vườn cao su thuộc ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo L bỏ xe môtô tại vườn cao su, cầm theo cây kiềm kim loại và 02 bao nylon đi bộ đến nhà ông Trương Văn L1, sinh năm 1978, ngụ khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Bị cáo L dùng kiềm cắt hàng rào kẽm B40 đi vào trong và dùng kiềm cắt hàng rào kẽm B40 chuồng gà bắt trộm 02 con gà trống có tổng trọng lượng 05kg của ông L1 bỏ vào trong áo đang mặc trên người, quay lại vườn cao su, lấy xe môtô điều khiển đi đến khu vực ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh T thì bị lực lượng Công an xã Đ kiểm tra phát hiện lập biên bản và bàn giao cho Công an phường L xử lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 89/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận:
- 01 (Một) con gà trống, màu lông đỏ đen, chân màu vàng, trọng lượng 2,4kg, trị giá: 264.000 đồng.
- 01 (Một) con gà trống, màu lông đỏ đen, chân màu vàng, trọng lượng 2,6kg, trị giá: 286.000 đồng.
Nguyễn Văn L bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKSTrB ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo L về tội danh trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật.
Về bào chữa: bị cáo L thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.
Về nói lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của những người này đã có đầy đủ trong hồ sơ, việc xét xử vắng mặt các bị hại không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau: Vào khoảng 01 giờ 00 ngày 01/11/2023, tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn L đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục trộm cắp 02 con gà có tổng trọng lượng 5kg, trị giá 550.000 đồng của ông Trương Văn L1 thì bị phát hiện bắt quả tang.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
- Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
- Về vật chứng: 01 (một) cây kiềm bằng kim loại dài 19cm, cán bọc nhựa màu đỏ đen; 02 (hai) bao nylon màu đỏ, kích thước (50x100)cm, các vật chứng liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các vật chứng khác, ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
[6] Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với ông Nguyễn Văn L2 chủ xe môtô biển số 70F1-084.83 không biết bị can L sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không đề nghị xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (S) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/3/2024.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự:
- - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
- - Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kiềm bằng kim loại dài 19cm, cán bọc nhựa màu đỏ đen; 02 (hai) bao nylon màu đỏ, kích thước (50x100)cm.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc H |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Lai trộm cắp tài sản
