|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 4 - 2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và bà Hoàng Thị Bích Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kiều E – sinh năm: 1984. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Anh Lê Minh T – sinh năm: 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Kiều E trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Minh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005 nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Do đó trong cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã nhau. Từ đầu năm 2007 đến nay, chị và anh T sống ly thân nhau. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Minh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Lê Minh H – sinh ngày: 08/12/2006.
Từ khi chị và anh T ly thân nhau đến nay, cháu H do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình nuôi dưỡng con thì chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tốt.
Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, chị đang làm rẫy tại địa phương, thu nhập hàng tháng khoảng 5.000.000đ, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Lê Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Kiều E tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005 nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Do đó trong cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã nhau. Từ đầu năm 2007 đến nay, anh và chị Em sống ly thân nhau. Nay chị Em yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý chấp nhận.
Về con chung: Anh và chị Em có 01 con chung là Lê Minh H – sinh ngày: 08/12/2006.
Từ khi anh và chị Em ly thân nhau đến nay, cháu H do chị Em trực tiếp nuôi dưỡng.
Khi ly hôn, chị Em yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con thì anh đồng ý chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
- + Về quan hệ hôn nhân: Xét chị Em và anh T không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Kiều E và anh Lê Minh T.
- + Về con chung: Đề nghị giao cháu Lê Minh H – sinh ngày: 08/12/2006 cho chị Lê Thị Kiều E trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Lê Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Em không yêu cầu.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Chị E và anh T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- + Về án phí: Đề nghị buộc chị Lê Thị Kiều E phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị Kiều E khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Lê Minh T. Anh T đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[1.2]. Chị Lê Thị Kiều E và anh Lê Minh T là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị E và anh T chung sống với nhau từ năm 2005 nhưng không đăng ký kết hôn. Nay chị Em yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh T nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 11, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 9, 14, 81, 82, 83, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.
[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Em và anh T sống chung với nhau vào năm 2005 nhưng không tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy hôn nhân của anh chị là không hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, nay chị Em có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Em và anh T.
[3.2]. Về con chung: Chị Em và anh T có 01 con chung là Lê Minh H sinh ngày: 08/12/2006.
Chị Em yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Yêu cầu trên của chị Em được anh T đồng ý chấp nhận. Xét thấy, bản thân chị Em có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị Em và anh T sống ly thân đến nay, cháu H sống cùng chị Em và được chị Em chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng tốt. Ngoài ra, cháu H cũng có nguyện vọng sống cùng với chị Em. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lê Minh H cho chị Em trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Em không yêu cầu.
[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị E và anh T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Lê Thị Kiều E phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
[5]. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Các Điều 11, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- - Các Điều 9, 81, 82, 83, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội;
- - Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;
- - Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Tuyên bố: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Kiều E và anh Lê Minh T là vợ chồng.
- Về con chung: Chị Em và anh T có 01 con chung là Lê Minh H – sinh ngày: 08/12/2006.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị E và anh T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị Kiều E phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Em đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0013012 ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.
- Quyền kháng cáo: Chị E và anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Giao con chung cho chị Lê Thị Kiều E trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Lê Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Lợi |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
