TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HN-ST Ngày: 26/4/2024 V/v “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Vũ.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Hữu Phước.
- 2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Linh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2024 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Bé H, sinh năm 1996 (có mặt).
- Địa chỉ: số A ấp K, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài M, sinh năm 1992 (có mặt).
- Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2024, biên bản hòa giải ngày 04/4/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, chị Hồ Thị Bé H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hoài M cưới nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (huyện B, tỉnh Bến Tre) vào ngày 11/12/2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, anh M thường xuyên đi chơi, không phụ chị lo chăm sóc con. Khi xảy ra mẫu thuẫn, vợ chồng cũng có ngồi lại để giải quyết, gia đình hai bên cũng nhiều lần tác động để vợ chồng chị hàn gắn nhưng vẫn không kết quả nên từ tháng 02/2024 vợ chồng chị đã sống ly thân. Trong thời gian xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân, anh M cũng chủ động xin hàn gắn nhưng chị cũng không đồng ý vì chị đã cho anh M nhiều cơ hội mà anh M cũng không thay đổi được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn với anh M, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoài M.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh M có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 06/11/2021 hiện nay đang sống với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Gia H1 và tự nguyện không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Tại bản tự khai đề ngày 28/3/2024, biên bản lấy lời khai ngày 01/4/2024, biên bản hòa giải ngày 04/4/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Hoài M trình bày:
Về hôn nhân: Anh đồng ý với lời trình bày của chị H về thời gian cưới nhau, nơi đăng ký kết hôn của vợ chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh sống vẫn hạnh phúc, cũng không xảy ra mâu thuẫn đến mức trầm trọng, nhưng khoảng tháng 01/2024 thì có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không phải lúc nào anh cũng đi chơi như chị H trình bày mà mỗi khi rãnh anh mới đi. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh cũng có nhờ cha mẹ hai bên tác động để tạo điều kiện cho anh với chị H hàn gắn nhưng chị H vẫn không đồng ý. Tuy chị H cương quyết xin ly hôn với anh nhưng anh vẫn còn thương chị H nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 06/11/2021 hiện nay đang sống với chị H. Nếu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H thì anh cũng đồng ý để cháu H1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng và anh không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh cũng không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- - Về thủ tục tố tụng: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị Bé H đối với anh Nguyễn Hoài M. Về con chung: Để cháu Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 06/11/2021 cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự nguyện của chị H không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Bé H và anh Nguyễn Hoài M là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh M sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị cũng đã ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không giải quyết được. Đồng thời, cũng có nhờ cha mẹ hai bên tác động tạo điều kiện cho anh chị có cơ hội hàn gắn nhưng vẫn không kết quả. Trong thời gian sống ly thân, anh chị cũng không có tới lui để tạo cơ hội hàn gắn được. Anh M muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh không đưa ra được biện pháp để hàn gắn. Đồng thời, trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, chị H luôn xác định tình cảm vợ chồng không còn với anh M và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh M là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh M là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Cháu Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 06/11/2021; Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị H và anh M sống ly thân, cháu H1 vẫn do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, chị H đều yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi cháu H1. Hơn nữa, tại phiên tòa anh M cũng đồng ý để cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và hiện nay cháu H1 cũng chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết để cháu H1 cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về tài sản chung: Chị H, anh M đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: Không có.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), chị Hồ Thị Bé H có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Bé H đối với anh Nguyễn Hoài M.
- Về con chung: Chị Hồ Thị Bé H có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 06/11/2021. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Hoài M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị H, anh M đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), chị Hồ Thị Bé H có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004160 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí, chị H đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho chị Hồ Thị Bé H, anh Nguyễn Hoài M biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Chí Vũ |
Bản án số 50/2024/HN-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE về yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 50/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
