|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-9-2024 Về việc ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Thu Ngát;
- Bà Hoàng Thị Hải Yến.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 25/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 23/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 - (có đơn xin vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Hoàng Khương D, sinh năm 1986 - (vắng mặt).
Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, ý kiến ghi trong hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Hoàng Khương D cùng làm điện lực ở huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên quen biết và tìm hiểu nhau. Sau khi được sự đồng ý của hai bên gia đình vợ chồng chị tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vào ngày 22/4/2020. Sau đó vợ chồng chị thuê nhà ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang sinh sống, vợ chồng chung sống được 2 tháng thì chị phát hiện ra anh D nghiện ma túy và vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn từ đó, anh D thường xuyên đánh đập chị và đòi tiền để đi trích hút (nhưng chị chưa báo chính quyền địa phương), vợ chồng anh chị sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị xin ly hôn với anh Hoàng Khương D.
Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung, nghĩa vụ chung về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng anh Hoàng Khương D không có văn bản ghi nhận ý kiến trong hồ sơ vụ án.
* Tại biên bản làm việc ngày 17/6/2024 chị H không cung cấp được địa chỉ hiện tại và nơi làm việc của anh Hoàng Khương D mà chỉ cung cấp được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh D ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Tại biên bản xác minh ngày 15/8/2024 và các biên bản làm việc ngày 24/5/2024, ngày 30/5/2024 và ngày 28/6/2024 chính quyền địa phương thị trấn P cung cấp như sau: Chị H, anh D đăng ký kết hôn năm 2020 và chung sống với nhau được 02 tháng ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì chuyển đi nơi khác sinh sống. Trong quá trình sinh sống ở địa phương anh D, chị H có mâu thuẫn, địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn nhưng anh D là người nghiện ma túy và đi cải tạo 02 lần, vợ chồng chị H, anh D cũng chỉ chung sống được thời gian ngắn thì ly thân. Khoảng đầu năm 2023, anh D đi cải tạo về địa phương một thời gian thì đi khỏi địa phương không rõ đi đâu, làm gì. Anh Hoàng Khương D có đăng ký hộ khẩu thường trú ở tổ dân phố C, thị trấn P và khẩu chỉ có một mình anh D. Trước đây anh D ở cùng mẹ đẻ là bà Lê Thị T nhưng khi Nhà nước thu hồi đất làm khu đô thị thì bà T nhận tiền đền bù và chuyển đi nơi khác sinh sống, bố mẹ anh D đã ly hôn được khoảng 30 năm nay, địa phương cũng không rõ bố mẹ anh D hiện đang sinh sống ở đâu. Anh D, chị H không có con chung, không có tài sản chung, không đứng tên bất động sản gì có giá trị. Anh D không thuộc đối tượng hộ nghèo, không thuộc đối tượng hộ cận nghèo, đối chiếu các quy định miễn án phí, trợ giúp pháp lý anh D đều không thuộc đối tượng.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ. Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Khương D.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H xin ly hôn anh D, anh D có địa chỉ cư trú tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về việc vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H, anh D; Chị H vắng mặt có đơn xin vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai không có lí do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh D.
[2] Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh D có đăng ký kết hôn ngày 22/4/2020 tại UBND thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Qua lời khai của chị H, kết quả xác minh, làm việc tại chính quyền địa phương có căn cứ khẳng định: Vợ chồng chị H, anh D chung sống được 02 tháng thì xảy ra mâu thuẫn do anh D nghiện ma túy và thường xuyên xin tiền chị để trích hút, vợ chồng chị H, anh D sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, chị H, anh D đã sống ly thân từ năm 2020, đời sống chung thực tế không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập anh D và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng anh không đến, anh D đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày về việc chị H xin yêu cầu ly hôn nên chị H xin ly hôn anh D là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Về việc nuôi con: Vợ chồng chị H, anh D không có con chung, không yêu cầu giải quyết nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung, công nợ chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Khương D.
- Về việc nuôi con: Các đương sự không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tiền án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004948 ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế thu. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 3.750.000 đồng (Ba triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Hồng Thảo |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh D
