Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày 25/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
  • Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024.

Đối với bị cáo: Phạm Thị V, sinh ngày 10/9/1970 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Có chồng là Phạm Văn T và 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2024 đến ngày 06/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lê Thị H, sinh năm 1973. Vắng mặt.
  2. Lê Thị N1, sinh năm 1962; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Lê Thị H1, sinh năm 1969; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện T, Thanh Hóa.

  1. Lê Thị H2, sinh năm 1961; Vắng mặt.
  2. Anh Lê Văn C, sinh năm 1989; Vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Thành V1, sinh năm 1957; Vắng mặt.
  4. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1969; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện T, Thanh Hóa.

  1. Anh Lê Khắc B, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn Q, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T nhận được tố giác của chị Lê Thị H (sinh năm 1973 trú tại thôn T, xã X, huyện T), tố cáo Phạm Thị V có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và giao nộp 01 file ghi âm nói chuyện qua điện thoại giữa chị H và Phạm Thị V về việc vay nợ và tính lãi của khoản vay. Nhận thức được hành vi vi phạm của bản thân nên ngày 14/01/2024, làm việc với Cơ quan điều tra, Phạm Thị V xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 01/2024, Phạm Thị V cho chị Lê Thị H vay 03 lần, lãi suất 146%/năm. Cụ thể:

  • · Lần thứ nhất: Vào cuối năm 2021, Phạm Thị V cho chị H vay 50.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày. V đã cắt lãi trước 01 tháng là 6.000.000 đồng và đưa cho chị H 44.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 16/01/2023, chị H đến nhà trả 50.000.000 đồng tiền gốc cho VV vẫn yêu cầu chị H trả lãi hàng tháng nhưng chị H mới trả cho V 12.000.000 đồng tiền lãi (gồm 6.000.000 đồng lãi cắt trước và sau khi vay được 02 tháng trả thêm 6.000.000 đồng), số lãi còn lại chị H chưa trả.
  • Đối với khoản vay này, Phạm Thị V và chị H không xác định được chính xác ngày, tháng, năm vay nên khoản vay này được tính là ngày cuối cùng của năm 2021 (31/12/2021) theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo. Từ ngày 31/12/2021 đến ngày 16/01/2023, tổng số ngày vay là 381 ngày. Tiền lãi theo thỏa thuận trong 381 ngày là 76.200.000 đ (146%/năm), cao gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 10.438.356 đ, thu lợi bất chính là 65.761.644 đ. Tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của chị H là 1.561.644 đ.
  • · Lần thứ hai: Ngày 18/01/2023, Phạm Thị V cho chị H vay 50.00.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày, V không cắt lãi trước và đưa đủ 50.000.000 đồng cho chị H. Ngày 15/4/2023, chị H chuyển 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M mang tên Lê Văn C (sinh năm 1989 trú tại thôn H, xã X, huyện T) để trả tiền lãi cho V. Cùng ngày, V đã gặp anh C để nhận 5.000.000 đồng, sau đó vài ngày thì chị H trả lãi thêm cho V 1.000.000 đồng tiền mặt. Khoản vay này, chị H mới trả được 6.000.000 đồng tiền lãi và chưa trả tiền gốc cho V.
  • Tính đến ngày 14/01/2024, số ngày vay là 361 ngày. Tiền lãi theo thỏa thuận trong 361 ngày là 72.200.000 đồng (146 %/năm), cao gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 9.890.410 đ, thu lợi bất chính là 62.309.590 đ.
  • · Lần thứ ba: Ngày 29/9/2023, chị H đến nhà Phạm Thị V hỏi vay 50.000.000 đồng nhưng V nói không có thì chị H đi về. Sau khi chị H bỏ về, V gọi điện cho bà Lê Thị N1 (sinh năm 1962 trú tại thôn T, xã X) hỏi vay 50.000.000 đồng. Bà N1 hỏi vay làm gì thì V nói “tôi cho con H T1 vay lại”. Một lúc sau bà N1 cầm số tiền 50.000.000 đồng sang nhà V và nói “Bà cho nó vay đi, tôi nghe nói nó sắp lấy được tiền Ngân hàng rồi, bà cho nó vay đi, tôi đòi được tiền, bà cũng đòi được cái 50 triệu cũ của bà”, V trả lời “Tôi không còn tiền” thì bà N1 nói tiếp “Đây tôi đưa cho bà, nếu bà cho vay phải cắt lãi trước 01 tháng 6.000.000 đồng”, nói xong đưa cho V 50.000.000 đồng rồi đi về.
  • V sau đó gọi điện cho chị H nói đã có tiền và bảo chị H ra lấy. Khoảng 10 phút sau, chị H đến nhà V, tại đây V yêu cầu chị H viết một giấy vay, số tiền 50.000.000 đồng. Viết giấy xong, V giữ giấy và đưa cho chị H 44.000.000 đồng, cắt lãi trước 6.000.000 đồng.
  • Ngày 30/9/2023, V gọi bà N1 đến nhà và đưa cho bà N1 6.000.000 đồng là tiền lãi cắt trước của chị H, bà N1 chia lại cho V 1.800.000 đồng và nói là tiền công xăng xe và điện thoại. Khoản vay này, chị H mới trả được cho V 6.000.000 đồng tiền lãi và chưa trả tiền gốc.
  • Tính đến ngày 14/01/2024, số ngày vay là 107 ngày, T2 lãi theo thỏa thuận trong 107 ngày là 21.400.000 đ (146%/năm), cao gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 2.931.506 đ, thu lợi bất chính là 18.468.494 đ. Tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của chị H là 3.068.494 đ.

Tổng số tiền V cho chị H vay là: 150.000.000 đồng, thu lợi bất chính 146.539.728 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của chị H là 4.630.138 đ. Tổng số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 19.369.862 đ. Hiện chị H đang nợ V 100.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh.

Đối với giấy vay tiền của anh Lê Khắc BNguyễn Thành V1, giữa Phạm Thị V và người vay không tính lãi nên không có căn cứ xử lý.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 giấy vay tiền giữa Phạm Thị VLê Thị H ngày 15/8/2023 (Âm lịch)- Chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen gắn thẻ sim số thuê bao 0971.276.044;
  • - Số tiền 70.000.000 đồng.

Hiện đang được quản lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS- TX ngày 10/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phạm Thị V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
  • - Về hình phạt:
    • + Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị V từ 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 16 (mười sáu) tháng.
  • Đề nghị hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Về áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Truy thu của bị cáo Phạm Thị V số tiền 18.238.356 đ (tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay) sung Ngân sách Nhà nước.
    • + Truy thu của chị Lê Thị H số tiền gốc chưa trả là 100.000.000 đ sung Ngân sách Nhà nước.
    • + Trong số tiền 4.200.000 đ là tiền bị cáo V sau khi thu tiền lãi của H đã đưa cho chị N1. Truy thu của chị Lê Thị N1 số tiền 1.131.506 đ để sung Ngân sách Nhà nước, buộc chị N1 phải trả lại cho chị H 3.068.494 đ.

Chị Lê Thị H được nhận lại tổng số tiền 4.630.138 đ thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu của chị H (cụ thể nhận lại từ bị cáo V 1.561.644 đ và từ bà N1 3.068.494 đ)

Vật chứng của vụ án: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen gắn thẻ sim số thuê bao 0971.276.044.

Tiếp tục quy trữ số tiền 70.000.000 đ của bị cáo V tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và có ý kiến xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người làm chứng; kết quả sao kê tài khoản ngân hàng; Dữ liệu tin nhắn; biên bản khám xét; vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 01/2024, quá trình sinh sống tại xã X, huyện T, Phạm Thị V đã cho chị Lê Thị H vay tổng số tiền 150.000.000 đồng với mức lãi suất 146%/ năm, cao gấp 7,3 lần so với mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính 146.539.728 đồng. Trong các khoản vay trên, có 02 lần V thu lợi bất chính, mỗi lần đều trên 30.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Thị V có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo V đã đủ cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức được rằng việc cho người khác vay tiền với mức lãi suất cao (trên 100%/năm) là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước. Do vậy, cần phải xử lý vụ án nghiêm minh nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và đã tự nguyện ra đầu thú tại cơ quan Công an, quá trình sinh sống tại địa phương đã tự nguyện giao nộp các vũ khí tự chế khi được cơ quan Công an tuyên truyền vận động và ủng hộ người nghèo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

[5] Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đồng thời bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, vì vậy xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo hiện là lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên chỉ áp dụng ở mức khởi điểm.

[7] Về biện pháp tư pháp:

[7.1] Đối với số tiền gốc, bị cáo sử dụng cho vay lãi cao, nhằm hưởng lợi bất chính. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, nên cần phải truy thu sung vào ngân sách nhà nước. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Tổng cộng số tiền nợ gốc bị cáo V đã thu lại được từ người vay là 50.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã sử dụng quay vòng cho vay lại hết số tiền 50.000.000 đ này. Đối với số tiền nợ gốc mà người vay chưa trả cho bị cáo, cần truy thu số tiền này từ người vay, để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định, cụ thể truy thu từ chị Lê Thị H số tiền 100.000.000 đ.

[7.2] Đối với khoản tiền lãi bị cáo thu vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, mà bị cáo đã thu thực tế của người vay, đây là tiền bị cáo thu lãi suất trái pháp luật của người vay, nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho người vay. Trong lần vay thứ nhất, bị cáo đã thu của người vay 12.000.000 đ tiền lãi, trong khi số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định của khoản vay này là 10.438.356 đ, do đó buộc bị cáo phải trả lại cho người vay là chị H số tiền 1.561.644 đ (làm tròn là 1.562.000 đ). Trong lần vay thứ ba, bị cáo V sau khi thu của chị H số tiền lãi là 6.000.000 đ, bị cáo chỉ cầm 1.800.000 đ và đưa cho bà Lê Thị N1 4.200.000 đ. Trong khi đối với khoản vay này, số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 2.931.506 đ. Do đó trong lần vay thứ ba này chỉ truy thu của bị cáo V 1.800.000 đ và truy thu của bà N1 số tiền 1.131.506 đ (làm tròn là 1.132.000 đ) để sung ngân sách Nhà nước. Còn lại số tiền 3.068.494 đ (làm tròn là 3.068.000 đ) cần buộc bà N1 trả lại cho người vay là chị H.

[7.3] Đối với số tiền lãi 18.238.356 đ (làm tròn là 18.238.000 đ) thực tế bị cáo đã thu từ người vay tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm), đây là tiền bị cáo hưởng lợi do phạm tội mà có, cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8]. Về các tình tiết khác liên quan tới vụ án:

Đối với bà Lê Thị N1, ngày 29/9/2023, khi nghe Phạm Thị V nói chị H có nhu cầu vay tiền, bà N1 đã thỏa thuận đưa cho V 50.000.000 đồng để V đứng tên cho H vay, lãi suất 146%/năm. Tại thời điểm khoản vay bị phát hiện, số tiền thu lợi bất chính là 18.468.494 đồng nên hành vi của Lê Thị N1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. CQĐT đã chuyển Công an huyện T đề nghị Chủ tịch UBND huyện T xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.

[8] Về vật chứng vụ án và tài liệu, đồ vật thu giữ:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen gắn thẻ sim số thuê bao 0971.276.044. Đây xác định là các công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án hiện vẫn còn giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 70.000.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội, tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân để đảm bảo cho nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 292, khoản 1, 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”,
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Thị V 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phạm Thị V cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Phạt bổ sung bị cáo Phạm Thị V 30.000.000 đ (ba mươi triệu đồng), sung vào ngân sách nhà nước.

  2. Về biện pháp tư pháp:
    • - Truy thu của bị cáo Phạm Thị V số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 18.238.000 đ (mười tám triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Truy thu số tiền nợ gốc chưa trả của người vay (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể:
      • + Truy thu chị Lê Thị H 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
      • + Truy thu của bà Lê Thị N1 số tiền 1.132.000 đ (một triệu một trăm ba mươi hai nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước
    • - Buộc bị cáo Phạm Thị V phải trả lại cho chị Lê Thị H số tiền thu lợi bất chính thực tế đã thu là 1.562.000 đ (một triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng)
    • - Buộc bà Lê Thị N1 phải trả lại cho chị Lê Thị H số tiền thu lợi bất chính thực tế đã thu là 3.068.000 đ (ba triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng)
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A98 5G màu đen, số imei 1: 863648066340276, số imei 2: 863648066340268 gắn thẻ sim số thuê bao 0971.276.044, trên thân sim có dãy số: 8984048000319470146.
  4. Tiếp tục quy trữ số tiền 70.000.000 đ (bảy mươi triệu đồng) của bị cáo Phạm Thị V trong tài khoản tạm gửi số 3949.0.1053930.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân tại K huyện T để đảm bảo cho việc thi hành án của bị cáo.

  5. Về án phí: Bị cáo Phạm Thị V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dhdf
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger