|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày 24-7-2024 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Liên
Ông Thạch Thanh Long
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 145/2024/TLST-HN ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giửa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Cẩm T, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Anh La Hoàng H, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 22-02-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Bùi Thị Cẩm T trình bày: Tôi với anh La Hoàng H tự quen biết nhau, được cha mẹ hai bên gia đình đồng ý cho chúng tôi đi đến hôn nhân, đám cưới được tổ chức vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 02/10/2002. Sau khi cưới vợ chồng sống ra riêng trên phần đất của anh ruột cho cất nhà ở nhờ, thời gian đầu vợ chồng chúng tôi chung sống hạnh phúc. Đến cuối năm 2020, vợ chồng chúng tôi thường xuyên cãi nhau do anh H thường xuyên
uống rượu về chửi mắng tôi, nhiều lần thách thức tôi làm đơn kiện ly hôn và tôi cũng đã hai lần nộp đơn nhưng vì con còn nhỏ và chồng nan nỉ xin sửa đổi nên tôi đã rút đơn kiện, nhưng sau này anh H không thay đổi vẫn còn uống rượu về kiếm chuyện chửi mắng tôi. Từ đó, tôi không thể sống chung với anh H được nữa. Hiện nay, mặc dù chúng tôi ở chung nhà nhưng mạn ai nấy sống, không còn quan tâm nhau, không còn hàn gắn được nên tôi yêu cầu xin ly hôn với anh La Hoàng H.
Con chung: Vợ chồng có hai người con tên La Bùi Thành T1, sinh ngày 18/01/2003 đã trưởng thành và La Bùi Triệu V, sinh ngày 06/5/2015 hiện đang sống với tôi. Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu xin được nuôi con, tôi không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 10-5-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn anh La Hoàng H trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của vợ anh là chị Bùi Thị Cẩm T về quan hệ hôn nhân. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc về ở riêng bên cha mẹ vợ. Nay vợ gửi đơn yêu cầu ly hôn thì tôi không đồng ý ly hôn. Lý do, tôi còn thương vợ con. Nguyên nhân vợ yêu cầu xin ly hôn với tôi là do tôi thường hay uống rượu, tôi cũng thừa nhận thỉnh thoảng tôi buồn gia đình do vợ thường hay bỏ nhà đi chơi nên tôi mới uống rượu, tôi cũng đã nhiều lần xin hàn gắng nhưng vợ không đồng ý. Trường hợp nếu Toà án giải quyết cho ly hôn thì do Toà án xem xét.
Con chung: Vợ chồng có hai người con tên La Bùi Thành T1, sinh ngày 18/01/2003 đã trưởng thành và La Bùi Triệu V, sinh ngày 06/5/2015 hiện đang sống với chúng tôi. Nếu ly hôn, theo nguyện vọng của con muốn ở với ai thì người đó nuôi, tôi không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của con La Bùi Triệu V theo bản tự khai ngày 18-5-2024 trình bày: Trong cuộc sống cha mẹ thường hay cự cãi với nhau do cha thường xuyên uống rượu bia làm ảnh hưởng đến việc học hành, nếu cha mẹ ly hôn con có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ.
Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành về việc có
mặt trong quá trình hoà giải. Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu của nguyên đơn xin được giải quyết ly hôn và nuôi con theo nội dung đã trình bày là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện của chị Bùi Thị Cẩm T xin ly hôn với anh La Hoàng H có địa chỉ ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Cẩm T với anh La Hoàng H tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 63-KH ngày 02/10/2022 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3] Chị Bùi Thị Cẩm T cho rằng, hôn nhân giữa chị với anh H không còn hạnh phúc do anh H không quan tâm gia đình, thường hay uống rượu bia, chửi mắng chị nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh H. Còn anh H cũng thừa nhận bản thân cũng thường hay uống rượu bia do vợ thường xuyên bỏ nhà đi chơi. Nhưng anh còn thương vợ, thương con nên anh xin được đoàn tụ không muốn ly hôn, trường hợp vợ cương quyết ly hôn thì anh cũng chấp nhận ly hôn. Thấy rằng, sau khi cưới vợ chồng chị T với anh H sống rất hạnh phúc. Đến năm 2020 thì vợ chồng chị T với anh H bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân chính là do anh H thường hay uống rượu bia, không quan tâm gia đình và xúc phạm chị T nên chị T cũng đã nhiều lần gửi đơn kiện xin ly hôn nhưng vì muốn cho anh H một cơ hội sửa đổi nên rút đơn kiện. Tuy nhiên, anh T vẫn không sửa đổi vẫn thường xuyên uống rượu bia, xúc phạm chị T dẫn đến chị T không còn tin tưởng anh H, vợ chồng không còn tiếng nói chung, không còn hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết, anh H chỉ cam kết sửa đổi nhưng cũng không đưa ra được phương hướng nào nhằm để hằn gắn tình cảm vợ chồng còn chị T thì luôn cương quyết xin được ly hôn với anh H do không chịu được cảnh chồng suốt ngày uống rượu, xúc phạm chị. Quá trình hoà giải, Tòa án đã nhiều lần động viên và cho hai bên một thời gian để hàn gắn nhưng cho đến nay, chị T và anh H vẫn không thể hàn gắn được tình cảm cho nhau. Qua xác minh người thân của chị T, xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh H cũng từ việc anh H thường hay uống rượu bia, xúc phạm nhau, không quan tâm gia đình dẫn đến chị T xin ly hôn. Thấy rằng, việc anh H thường xuyên uống rượu bia xúc phạm chị T nhiều lần không sửa đổi là có thật. Từ đó, chị T mới yêu cầu xin ly hôn với anh H, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục
đích của hôn nhân cũng không đạt được. Từ những cở sở trên, việc yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của V1 đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh H.
[4] Về con chung: Vợ chồng chị T và anh H có hai người con tên La Bùi Thành T1, sinh ngày 18/01/2003 đã trưởng thành không bị khuyết điểm về thể chất nên Hội đồng xét xử không giải quyết người nuôi con và con chung La Bùi Triệu V, sinh ngày 06/5/2015 chưa trưởng thành, hiện đang sống với chị T. Tại phiên hòa giải ngày 10 tháng 5 năm 2024, chị T và anh H thống nhất nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì theo nguyện vọng của con muốn sống với ai người đó sẽ nuôi dưỡng. Tại bản khai ngày 18 tháng 5 năm 2024 con La Bùi Triệu V có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị T. Thấy rằng, nguyện vọng của con La Bùi Triệu V là phù hợp với thực tế thích nghi với môi trường sống cũng như sinh hoạt hằng ngày. Do đó, Hội đồng xét xử cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, anh H được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử giải thích quyền được yêu cầu cấp dưỡng cho con nhưng chị T không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: chị T và anh H trình bày không có. Trường hợp sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Cẩm T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Cẩm T được ly hôn với anh La Hoàng H. Giấy chứng nhận kết hôn số 63-KH ngày 02/10/2022 do Ủy ban nhân dân xã B,
huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho chị Bùi Thị Cẩm T và anh La Hoàng H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
2. Về con chung: Chị Bùi Thị Cẩm T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên La Bùi Triệu V, sinh ngày 06/5/2015. Anh La Hoàng H được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn theo quy định pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì lợi ích của con, chị T được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H sau khi ly hôn.
4. Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: chị T và anh H trình bày không có. Trường hợp sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
5. Về án phí: Chị Bùi Thị Cẩm T nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002309 ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long nên chị T không còn phải nộp.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn. Chị Bùi Thị Cẩm T và anh La Hoàng H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị Cẩm Tú được ly hôn với anh La Hoàng Hiệp
