TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 5 - 2024
V/v xin ly hôn
và nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Toàn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thụy Thúy Ân
- Ông Nguyễn Tuấn Kiệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên toà: Thuộc trường hợp không tham gia.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp Mỹ Lộc, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ.
Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Dương Minh T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp Thuận Thới, xã Thuận An, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2024 và qua quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ L trình bày:
Chị và anh Dương Minh T do tự quen biết nhau và sau thời gian tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 03/4/2019.
Trong thời gian chung sống hai anh chị có 01 con chung là cháu Dương Lê Khả V, sinh ngày 20/3/2019, hiện tại cháu đang sống với mẹ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, gặp khó khăn về kinh tế nên cả hai thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay. Từ đó, chị L nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Mỹ L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khả V và không yêu cầu anh Lê Minh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn Lê Thị Mỹ L có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 03/5/2024, bị đơn anh Dương Minh T đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, việc vắng mặt của các đương sự nêu trên là không vì sự kiện bất khả kháng, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Lê Thị Mỹ L và anh Dương Minh T.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Theo lời trình bày của chị L thì giữa chị và anh Dương Minh T do tự quen biết nhau và sau thời gian tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 03/4/2019. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, gặp khó khăn về kinh tế nên cả hai thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, đã sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Từ đó, chị L nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên chị xin được ly hôn với anh T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Dương Minh T đã được Tòa án tống đạt tất cả các văn bản tố tụng, nhưng anh vẫn không có văn bản trình bày ý kiến của anh về những vấn đề theo đơn yêu cầu khởi kiện của chị L, nên anh đã không thực hiện nghĩa vụ chứng theo Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, anh T phải chụi hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.
Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa chị L và anh T đã rơi vào tình trạng trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thêm nữa, anh chị đã sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Lê Thị Mỹ L được ly hôn với anh Dương Minh T.
[3] Về con chung: Chị Lê Thị Mỹ L trình bày giữa hai anh chị có 01 con chung là cháu Dương Lê Khả V, sinh ngày 20/3/2019, hiện tại cháu đang sống với mẹ. Chị Lê Thị Mỹ L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khả V. Xét việc anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của chị L, nên xét yêu cầu được T tục nuôi con của chị L là có căn cứ để chấp nhận.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Dương Lê Khả V cho chị Lê Thị Mỹ L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh T không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Mỹ L chưa yêu cầu nên anh Dương Minh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Mỹ L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
- Điều 91; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ L.
Xử cho chị Lê Thị Mỹ L được ly hôn với anh Dương Minh T.
2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Dương Lê Khả V, sinh ngày 20/3/2019 cho chị Lê Thị Mỹ L được trực T nuôi dưỡng.
Anh T không trực T nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Mỹ L chưa có yêu cầu nên anh Dương Minh T chưa phải cấp dưỡng.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị L đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012506, ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Do đó, chị L đã nộp xong.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn. Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh VL: 01; - VKSND TXBM: 01; - Chi cục THADS TXBM: 01; - UBND xã Mỹ Khánh; - Đương sự: 02; - Lưu: 08. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Toàn |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lài - Tiếp tranh chấp ly hôn
