Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 24-4-2024

V/v: Tranh chấp ly hôn, yêu cầu xác

định tài sản riêng, chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Thẩm phán:

  1. Ông Phan Trịnh Minh Đức
  2. Bà Võ Thị Mỹ Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 118/2023/TLPT-HNGĐ ngày 05/12/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, yêu cầu xác định tài sản riêng, chia tài sản khi ly hôn”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1228/2023/HNGĐ-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1181/2024/QĐ-PT ngày 06/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3884/2024/QĐ-PT ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1991
  • Địa chỉ: 2 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông L để giải quyết về tài sản: Ông Nguyễn Hoàng V sinh năm 1991, địa chỉ: E C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc M, sinh năm 1986
  • Địa chỉ: 1 L, khu phố D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà M để giải quyết về tài sản: bà Nguyễn Thị Diễm M1, sinh năm 1994, địa chỉ: 2 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà M: ông Nguyễn Chí T, luật sư Công ty L2.
  • - Người có quyền nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Văn Bình s năm 1989, địa chỉ lô G đường số D, ấp M, KDC X, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • - Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1961, địa chỉ: 2 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn ông Nguyễn Minh L và ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện hợp pháp của ông L cùng trình bày:

Ông L và bà Phạm Thị Ngọc M tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 07/5/2019 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 68/2019, trích lục kết hôn số 394/TLKH-BS.

Sau khi kết hôn ông L và bà M thuê phòng trọ tại số A Liên khu D - E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để chung sống cùng nhau nhưng cuộc sống của hai bên không được thuận lợi, và hạnh phúc như mong muốn, xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, mỗi lần cãi nhau bà M lại bỏ đi đâu không rõ vài ngày, từ đó tình cảm giữa hai bên rạn nứt, từ tháng 7/2019 ông L về nhà mẹ đẻ tại F Đường S, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ở, hai bên ly thân từ đó đến nay.

Nay ông L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng bà M vì hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung giữa ông L bà M đều không có.

Trong thời kỳ hôn nhân với bà M, ông L tạo lập được tài sản riêng là nhà đất tại thửa G2-07 tờ bản đồ số 8 (sau này thửa đất đổi thành thửa số 629, tờ bản đồ số 24) tại địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020, cập nhật tên ông L ngày 16/11/2020.

Quá trình tạo lập tài sản riêng như sau:

Ngày 08/5/2020, ông L viết thư xin mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Ngọc N một khoản tiền để mua đất, xây nhà ổn định cuộc sống và được bà N đồng ý cho riêng ông L 2.490.000.000đ.

2

Ngày 12/5/2020, bà N cho ông L 90.000.000đ tiền mặt, ông L dùng tiền này đặt cọc cho ông Đồng Văn H để nhận chuyển nhượng lô đất G2-07 tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; lô đất này nằm trong dự án khu dân cư T do công ty cổ phần A làm chủ đầu tư, sau này được Sở T cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên.

Ngày 13/5/2020, ông L và ông H ký giấy cọc sang nhượng đất, thỏa thuận đặt cọc 90.000.000 đồng, giá bán lô đất là 1.690.000.000đ, ngày 02/6/2020 ông L phải thanh toán cho ông H 1.600.000.000đ nhưng được trừ lại 5% do ông H chưa thanh toán cho chủ đầu tư khi mua đất nền dự án.

Ngày 26/5/2020, bà N chuyển vào tài khoản số 12680687 của ông L tại Ngân hàng TMCP Á số tiền 2.400.000.000đ.

Ngày 01/6/2020, ông L đã chuyển vào tài khoản số 14971159 tại Ngân hàng TMCP Á của bà Lê Thị C là vợ của ông H số tiền 1.534.000.000₫ để thanh toán số tiền mua đất còn lại theo thỏa thuận trên.

Số tiền còn lại 66.000.000đ ông L và ông H thống nhất để cho ông L trả cho người môi giới 10.000.000đ và 5% được trừ vào số tiền trong giấy nhận cọc ông L đã trả cho chủ đầu tư dự án sau khi nhận giấy chứng nhận.

Sau khi nhận chuyển nhượng ông L đã được chủ đầu tư dự án giao nền, lắp đồng hồ điện nước, xây nhà, ký công chứng chuyển nhượng vào ngày 22/10/2020 tại văn phòng công chứng Trần Văn Châu tỉnh L, lúc này thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận sở hữu như trên.

Ngày 16/11/2020, ông L được cập nhật tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 nói trên và nhận bàn giao nền vào ngày 03/12/2020.

Sau khi nhận đất ông L đã xây nhà bằng số tiền còn lại ông L có, vào khoảng 700.000.000đ. Bà N có văn bản xác nhận cho riêng ông L được công chứng hợp pháp ngày 07/01/2023. Do đó ông L yêu cầu tòa án công nhận nhà đất trên là tài sản riêng của ông L.

Theo bị đơn bà Phạm Thị Ngọc M trình bày:

Bà xác nhận thời gian hai bên kết hôn đúng như ông L trình bày và đồng ý ly hôn với ông L do ông L không chung thủy với bà.

Về con chung và nợ chung giữa ông L bà M không có là đúng.

Về tài sản chung: quá trình nhận chuyển nhượng đất, xây nhà tại thửa đất số 629, tờ bản đồ số 24, tại địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020 nói trên bà M có đưa cho ông L hơn 01 tỉ đồng gồm tiền riêng của bà M có trước hôn nhân và tiền bà M mượn thêm của chị em ruột. Việc vay mượn không lập giấy tờ vì chị em ruột tin tưởng nhau, bà M tin ông L nên bà M không có chứng cứ chứng minh việc vay mượn, giao tiến này để nộp cho tòa án.

3

Bà M giữ nguyên yêu cầu phản tố như đơn ngày 05/4/2021, đề nghị tòa công nhận nhà đất trên là tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông L bà M và chia cho bà M hưởng 50% giá trị tài sản nhà đất trên, tính theo kết quả định giá của Công ty TNHH T1 ngày 25/7/2022 là 2.861.000.000đ/2=1.430.500.000₫.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn B trình bày: ông thuê phòng trọ của ông L tại địa chỉ G tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, ông xác định không có liên quan quyền lợi, nghĩa vụ gì trong vụ án, đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng và yêu cầu vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của tòa.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ngọc N trình bày:

Bà là mẹ đẻ ông L. Sau khi ông L bà M kết hôn khoảng 3 tháng thì đã ly thân, ông L buồn bã vì hôn nhân không hạnh phúc, cuộc sống khó khăn, đang ở nhà thuê muốn xin bà N khoản tiền mua nhà đất nhưng không dám nói trực tiếp nên ngày 08/5/2020 đã viết thư xin tiền.

Ngày 12/5/2020, bà cho ông L 90.000.000 đồng để đặt cọc cho ông H mua lô đất trên. Số tiền này bà N lấy từ tiền nhận cọc chuyển nhượng nhà đất số F Đường S, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 25/5/2020 bà N chuyển nhượng được nhà đất này cho bà Phạm Thị L1 theo hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 với giá 8.200.000.000đ, cùng ngày bà L1 đã chuyển khoản cho bà N 7.700.000.000đ.

Ngày 26/5/2020 bà N cho riêng ông L thêm 2.400.000.000₫ bằng hình thức chuyển vào tài khoản của ông L tại ngân hàng TMCP Á.

Nguồn gốc nhà S2 trên là tài sản chung của ông Nguyễn Văn M2 và bà N (là cha mẹ ông L), ông M2 chết nên bà N và các đồng thừa kế hàng thừa kế thứ nhất của ông M2 đã khai tặng bà N và ông Nguyễn Minh N1 (là em ông M2) được thừa kế toàn bộ tài sản này; sau khi ông L ông Nhật thành n bà N sẽ bán đi để chia lại cho các con.

Toàn bộ tiền mua đất xây nhà 2.490.000.000đ là tiền bà N cho riêng ông L nên bà đề nghị tòa án công nhận tài sản trên là của riêng ông L.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1228/2023/HNGĐ-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L. Cho ông L được ly hôn với bà M. Về con chung, nợ chung, tài sản chung: Không có.
  • - Công nhận nhà đất: tại thửa số 629, tờ bản đồ số 24, tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020 là tài sản riêng của ông L.
  • - Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà M về việc yêu cầu công nhận nhà đất trên là tài sản chung của bà M ông L và chia cho bà M 50% giá trị này.

4

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, việc thi hành án theo quy định của pháp luật. Ngày 29/8/2023, bà M có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà M và người đại diện hợp pháp của bà M là bà Nguyễn Thị Diễm M1 vắng mặt, bà M1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Luật sư Nguyễn Chí T là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà M trình bày: Bà M kháng cáo yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, xác định nhà đất tại thửa số 629, tờ bản đồ số 24, tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020 là tài sản chung của bà M ông L và chia cho bà M 50% giá trị nhà đất này căn cứ theo kết quả định giá của công ty T1 ngày 25/7/2022 là 1.430.500.000 đồng bởi vì:

  • +Thửa đất số 629, tờ bản đồ số 24, tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020, trước thời điểm sang nhượng 13/5/2020 do ông L khai nhưng ông Long cung c “giấy nhận cọc sang nhượng đất” ngày 13/5/2020 giữa ông L với ông Đồng Văn H, trên giấy lại ghi thửa đất sang nhượng là G2-07 tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại ấp mới 2, xã M, Long An chứ không phải thửa số 629.
  • +Ông Long cung c giấy tờ thể hiện ông thanh toán tiền mua nhà bằng chuyển khoản cho bà Lê Thị C nhưng không có căn cứ xác định bà C là vợ ông H và được ủy quyền nhận tiền theo hợp đồng đặt cọc.
  • +Thực tế bà M và ông L sống chung đến năm 2021 tại phường B, quận B sau đó mới ly thân nên nhà đất trên là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.
  • +Bà M có mượn bà S, bà H1 80.000.000 đồng đưa cho ông L đặt cọc mua đất, được bà Y mẹ ruột bà M cho hơn 1.000.000.000 đồng bà M đều đưa ông L mua đất nhưng không làm giấy tờ vì vợ chồng tin tưởng nhau.

Bị đơn ông L và người đại diện hợp pháp giải quyết về tài sản là ông Nguyễn H2 cùng trình bày:

Sau khi kết hôn ông L chỉ chung sống với bà M được 3 tháng thì xảy ra mâu thuẫn nên ông về nhà mẹ ruột ở Đường S, phường T, quận T ở, sau đó xin tiền mẹ là bà N mua lô đất trên. Bà N đã cho riêng ông L tổng cộng 2.490.000.000đ tiền mua đất, xây nhà và được cấp giấy chứng nhận như trên. Khi mua đất xây nhà ông L bà M đã sống ly thân, đây là tài sản riêng của ông, bà M không đóng góp gì vào việc mua, xây nhà này nên ông L không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của bà M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu: những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

5

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Ngọc M: Về hình thức đơn kháng cáo nằm trong hạn luật định nên hợp lệ; về nội dung: Nhà đất tại thửa số 629, tờ bản đồ số 24, tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020 là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của bà M ông L nhưng ông Long cung c chứng cứ thể hiện được mẹ ông cho tiền mua đất xây nhà, bà N mẹ ông L có văn bản xác nhận cho riêng con tổng cộng 2.490.000.000 đồng tiền mua nhà đất này, việc chuyển nhượng nhà đất được công chứng hợp pháp tại Văn phòng C, giá trị nhà đất phù hợp khoản tiền được cho. Bà M không cung cấp đủ cơ sở, chứng cứ chứng minh đây là tài sản chung vợ chồng do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu đòi chia ½ giá trị tài sản của bà M. Tuy nhiên về án phí tòa sơ thẩm buộc bà M chịu là không đúng qui định pháp luật cần thiết phải điều chỉnh, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo bà M, sửa án sơ thẩm về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: bà Nguyễn Thị Ngọc N, ông Trịnh Văn B, bà Nguyễn Thị Diễm M1 có yêu cầu xét xử vắng mặt, bà Phạm Thị Ngọc M đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần hai, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu kháng cáo:

  • * Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị Ngọc M làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  • * Về nội dung kháng cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy: Bà M ông L tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 68/2019 ngày 07/5/2019 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Ông L có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà M do vợ chồng mâu thuẫn và được Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử cho ly hôn, bà M đồng ý ly hôn, hai bên xác định không có con chung, không có nợ chung, phần này đương sự không kháng cáo nên không xét.

Xét yêu cầu kháng cáo của bà M:

Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CT 55806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020, cập nhật sang tên ông L ngày

6

16/11/2020 đối với thửa đất 629, tờ bản đồ số 24, diện tích 115m² tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thì đây là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của bà M và ông L.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông L trình bày khi ông lấy bà M thì bà M đang làm công nhân may, các em của bà M cũng làm công nhân, chị em bà M cùng thuê trọ tại phường B, quận B; ông L làm tài xế lái xe tải lương khoảng 7.000.000 đồng/tháng, sau khi kết hôn vợ chồng ông thuê nhà trọ tại phường B, quận B để ở, bà Y là mẹ bà M sống ở vùng nông thôn tại Phú Yên nên không thể có khả năng để cho con tiền mua nhà. Bản thân ông L cũng không có khả năng tự mua đất xây nhà mà phải xin tiền của mẹ ông là bà N để mua. Ông L yêu cầu xác định đây là tài sản riêng do ông mua đất, xây nhà mà có, bà M không có đóng góp gì và cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện nguồn tiền ông L mua đất, xây nhà là do được bà N là mẹ ruột bán nhà tại đường S, phường T, quận T cho mà có, tổng số tiền được cho là 2.490.000.000đ trong đó bà N chuyển vào tài khoản của ông L tại ngân hàng TMCP Á 2.400.000.000đ vào ngày 26/5/2020; theo thỏa thuận ngày 02/6/2020 ông L phải thanh toán cho ông Đồng Văn H 1.600.000.000đ nhưng được trừ lại 5% do ông H chưa thanh toán cho chủ đầu tư khi mua đất nền dự án; ngày 01/6/2020 ông L chuyển khoản thanh toán tiền mua đất còn lại cho ông H bằng cách chuyển khoản số tiền 1.534.000.000đ vào tài khoản của bà Lê Thị C là vợ của ông H (bút lục 112,113), các nội dung chuyển tiền qua tài khoản này đều được thể hiện rõ trên bản sao kê tài khoản của ông L ngày 09/12/2020 (Bút lục 114) do ngân hàng TMCP Á chi nhánh C2, phòng G cung cấp, sau khi các bên hoàn tất việc chuyển nhương quyền sử dụng đất thì ông L đã được cập nhật tên trên giấy tờ sở hữu như trên là phù hợp với tiến trình mua đất, thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa các bên ông L, ông H và chủ đầu tư nên yêu cầu của ông L xác định đây là tài sản riêng của ông là có cơ sở.

Bà M yêu cầu Tòa án xác định nhà đất tọa lạc tại thửa số 629 tờ bản đồ 24 tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nói trên là tài sản chung của bà và ông L và trình bày nguồn tiền mua đất xây nhà là do bà M được mẹ ruột là bà Y cho hơn 1.000.000.000đ, bà M còn vay thêm của chị là bà S bà H1 80.000.000đ để trả tiền cọc mua đất, toàn bộ số tiền này bà đã đưa cho ông L để mua đất, xây nhà nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nội dung bà trình bày trên là đúng, cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã có góp công sức tạo lập tài sản này, không được ông L thừa nhận nên yêu cầu của bà M về việc xác định tài sản trên là tài sản chung vợ chồng, chia cho bà M nhận 50% giá trị tài sản là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và yêu cầu xác định tài sản riêng ông L phải chịu theo qui định pháp luật.

Theo qui định tại khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì người yêu cầu chia tài sản

7

chung không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần bị tòa án bác đơn yêu cầu, trường hợp tòa án xác định tài sản mà đương sự yêu cầu chia không phải là của họ thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Do đó, bản án sơ thẩm bác yêu cầu của bà M mà vẫn buộc bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 54.915.000đ là không đúng nên cần phải điều chỉnh lại án phí bà M phải chịu theo đúng quy định pháp luật; Do đó, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bà M, sửa một phần bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa một phần bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 91, 147, 148, 306, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 43, 56, 57, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008, đã sửa đổi bổ sung năm 2014,

Tuyên xử:

  • * Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Phạm Thị Ngọc M về mặt hình thức.
  • * Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Ngọc M. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 1228/2023/HNGĐ-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh L:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh L được ly hôn bà Phạm Thị Ngọc M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2019 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2019 cho ông Nguyễn Minh L và bà Phạm Thị Ngọc M không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  • - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.
  • Công nhận nhà, đất tại thửa đất số 629, tờ bản đồ số 24, tại địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 586883, số vào sổ cấp GCN: CT 55806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020, cập nhật sang tên ông Nguyễn Minh L ngày 16/11/2020 là tài sản riêng của ông Nguyễn Minh L.

8

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phạm Thị Ngọc M về việc yêu cầu công nhận nhà, đất tại thửa đất số 629, tờ bản đồ số 24, tại địa chỉ xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 586883, số vào sổ cấp GCN: CT 55806 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/5/2020, cập nhật sang tên ông Nguyễn Minh L ngày 16/11/2020 là tài sản chung của bà Phạm Thị Ngọc M với ông Nguyễn Minh L và chia cho bà M được nhận 50% giá trị tài sản này là 1.430.500.000 (một tỷ, bốn trăm ba mươi triệu, năm trăm nghìn) đồng.
  2. Về án phí và thi hành án:

Thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu công nhận tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Minh L phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông L đã tạm nộp theo các biên lai thu tiền số AA/2019/0062903 ngày 12/01/2021 và AA/2019/0062904 ngày 12/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Minh L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Phạm Thị Ngọc M phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã tạm nộp là 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0063623 ngày 28/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. H3 lại cho bà Phạm Thị Ngọc M số tiền chênh lệch là 26.700.000 (hai mươi sáu triệu bảy trăm ngàn) đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm bà Phạm Thị Ngọc M không phải chịu. H3 lại cho bà Phạm Thị Ngọc M số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã tạm nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0026306 ngày 29/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

9

Nơi nhận:

  • - TAND TC;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TPHCM
  • - Chi cục THADS Q.Bình Tân, TP.HCM;
  • - TAND Q.Bình Tân, TP.HCM;
  • - UBND P. Tây Thạnh, Q. Tân Phú, TP.HCM;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HS, VT (T/25).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Phương

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, yêu cầu xác định tài sản riêng, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, yêu cầu xác định tài sản riêng, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger