Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/KDTM-ST

Ngày: 23-5-2024

V/v: tranh chấp Hợp đồng vận

chuyển hàng hóa.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Quang Cảnh
  2. Ông Lê Ngọc Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 124/2022/KTST ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2024/QĐXXST- KT ngày 26 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 295/2024/QÐST-KDTM ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T
  2. Địa chỉ: D N, KP1, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Thanh H – sinh năm 1993 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: A T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Công ty TNHH S
  4. Địa chỉ: 7 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thanh P – sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: G N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn công ty cổ phần T do ông Vũ Thanh H là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ngày 01/8/2017, công ty Trách nhiệm hữu hạn S (sau đây gọi tắt là công ty S) và công ty cổ phần T (sau đây gọi tắt là công ty T) ký kết hợp đồng nguyên tắc vận chuyển hàng hóa số 2017/HW-08003. Nội dung hợp đồng quy định công ty S đồng ý sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng hóa của công ty T. Tại điều 3.5 hợp đồng quy định công ty S phải thanh toán tiền cước vận chuyển và chi phí liên quan ( phí chứng từ....) cho công ty T trước khi một trong các điều kiện tín dụng bên dưới đến hạn:

  • + Hạn mức tín dụng: 10.000 USD (mười ngàn đô la Mỹ)
  • + Thời gian tín dụng: 30 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn.

Tại Điều 3.7 hợp đồng quy định: Trong mọi trường hợp bất khả kháng hoặc tranh chấp thương mại xảy ra sẽ không ảnh hưởng đến việc thanh toán tiền cước và chi phí liên quan.

Ngày 18/5/2018, công ty S phát sinh số nợ 51.588.760 đồng, cụ thể của các hóa đơn: số 23218, ngày phát hành 18/5/2021, số tiền 35.340.000 đồng; hóa đơn số 23219, ngày phát hành 18/5/2018, số tiền 16.248.760 đồng.

Ngày 31/5/2018 công ty T gửi cho công ty S hai hóa đơn nêu trên bằng dịch vụ chuyển phát nhanh 247 Express, số biên lai DBO1812656.

Nay đã lâu nhưng công ty S vẫn không thanh toán khoản nợ trên cho công ty T.

Nay công ty T khởi kiện yêu cầu:

  • Buộc công ty S thanh toán cho công ty T số tiền 51.588.760 đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Buộc công ty S phải thanh toán khoản tiền lãi do chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 1.125%/tháng (13.5%/năm), thời gian tính lãi từ ngày 18/6/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (23/5/2024) là 71 tháng 5 ngày: 41.303.250 đồng.

Tổng cộng công ty S phải thanh toán số tiền là 92.892.010 đồng.

Bị đơn công ty trách nhiệm hữu hạn S do ông Phan Thanh P là người đại diện theo pháp luật đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Nguyên đơn công ty cổ phần T do ông Vũ Thanh H là người đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có bản tự khai trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu công ty S thanh toán cho công ty T số tiền 51.588.760 đồng một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Buộc công ty S phải thanh toán khoản tiền lãi do chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 1.125%/tháng (13.5%/năm), thời gian tính lãi từ ngày 18/6/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (23/5/2024) là 71 tháng 5 ngày là 41.303.250 đồng đồng.

Tổng cộng công ty S phải thanh toán số tiền là 92.982.010 đồng

- Bị đơn công ty TNHH S do ông Phan Thanh P là người đại diện theo pháp luật vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2022, hợp đồng nguyên tắc vận chuyển hàng hóa số 2017/HW-08003 ngày 01/8/2017 thì giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh tranh chấp, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về Hợp đồng vận chuyển hàng hóa. Công ty TNHH S có trụ sở đăng ký kinh doanh tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Thanh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Bị đơn công ty TNHH S do ông Phan Thanh P là người đại diện theo pháp luật đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

Công ty TNHH S do ông Phan Thanh P là người đại diện theo pháp luật không có mặt tại Tòa án để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ cũng như vắng mặt tại phiên tòa hôm nay mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu, chứng cứ, tài liệu của nguyên đơn nộp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, để xem xét giải quyết.

[3.1] Yêu cầu công ty S phải thanh toán cho công ty T số tiền 51.588.760 đồng:

Xét, hợp đồng hợp đồng nguyên tắc vận chuyển hàng hóa số 2017/HW-08003 giữa công ty Tcông ty S; lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận phù hợp và không trái quy định pháp luật, có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 530; Điều 531 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên B (công ty T) đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình bao gồm thu xếp việc vận chuyển hàng từ địa điểm đi đến địa điểm đến như hai bên đã thỏa thuận, cung cấp bộ vận đơn (cho hàng nhập) và giấy nhận hàng thì bên A (Công ty S) phải thanh toán tiền cước vận chuyển và các chi phí liên quan (THC, phí chứng từ,...) cho bên B trước khi một trong các điều kiện bên dưới tới hạn:

  • + Hạn mức tín dụng: 10.000 USD (mười ngàn đô la Mỹ)
  • + Thời gian tín dụng: 30 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn.

Ngày 18/5/2018, Công ty S phát sinh số nợ 51.588.760 đồng, cụ thể của các hóa đơn: 002318, ngày phát hành 18/5/2018, số tiền 35.340.000 đồng; hóa đơn số 0023219, ngày phát hành 18/5/2018, số tiền 16.248.760 đồng.

Tới nay đã quá thời hạn theo quy định tại hợp đồng 2017HW-08003 nhưng công ty S vẫn không thanh toán khoản công nợ trên mặc dù công ty T đã nhiều lần yêu cầu.

Nhận thấy, công ty S và đại diện pháp luật ông Phan Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ vào Điều 93, 94, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Hợp đồng nguyên tắc vận chuyển hàng hóa số 2017/HW-08003, Hóa đơn số 0023218 và 0023219 (do phía nguyên đơn cung cấp) là nguồn chứng cứ duy nhất và hợp pháp để giải quyết vụ án, nên có cơ sở khẳng định công ty S còn nợ công ty T số tiền 51.588.760 đồng. Do vậy, căn cứ Điều 530, 531, 536 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công ty S có nghĩa vụ thanh toán số tiền 51.588.760 đồng cho nguyên đơn.

[3.2] Yêu cầu tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất mức lãi nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 1.125%/tháng (13.5%/năm), thời gian tính lãi từ ngày 18/6/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (23/5/2024) là 71 tháng 5 ngày: 45.360.277 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy công ty T đã thực hiện xong việc vận chuyển hàng hóa, có đầy đủ biên bản, chứng từ, đã xuất hai hóa đơn giá trị gia tăng cho công ty S ngày 18/05/2018 số 0023219 và số 0023218 và thời hạn công ty S phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại hợp đồng nguyên tắc giữa các bên là 30 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn nhưng bị đơn vẫn chưa thanh toán khoản công nợ với số tiền 51.588.760 đồng. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán; chưa thanh toán đầy đủ tiền cước vận chuyển hàng hóa nên phải chịu tiền lãi chậm thanh toán. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 533 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi đối với số tiền chậm thanh toán và thời điểm tính lãi từ ngày 18/6/2018 đến ngày xét xử trên số tiền nợ cước vận chuyển của bị đơn.

Căn cứ vào công văn trả lời mức lãi suất nợ quá hạn của ba Ngân hàng: Ngân hàng N chi nhánh T1, Ngân hàng thương mại cổ phần S1; Ngân hàng N1 chi nhánh T2 thì mức lãi suất nợ quá hạn trung bình tại thời điểm xét xử là 14.13%/năm. Tuy nhiên nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi suất chậm thanh toán là 1.125%/tháng (tương đương 13.5%/năm), thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba Ngân hàng nêu trên và có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[3.4]. Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp quy định tại Điều 55 Luật Thương Mại nên có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc công ty TNHH S có nghĩa vụ thanh toán cho công ty T số tiền tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2024 là 92.892.010 đồng (trong đó nợ gốc là 51.588.760 đồng, lãi chậm thanh toán 41.303.250 đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn công ty T được chấp nhận nên bị đơn công ty TNHH S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên toàn bộ số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho công ty T

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng:

  • Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 530; Điều 531 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Điều 55, Điều 306 Luật Thương mại
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần T
  2. Công ty TNHH S có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần T số tiền còn thiếu của Hợp đồng nguyên tắc vận chuyển hàng hóa số 2017/HW-08003 và Hóa đơn số 0023218 ngày 18/5/2021, ký hiệu TD/17P; hóa đơn số 0023219, ngày phát hành 18/5/2018, ký hiệu TD/17P là 92.892.010 đồng (trong đó nợ gốc là 51.588.760 đồng, lãi chậm thanh toán 41.303.250 đồng)

    Thời hạn và phương thức thanh toán: Một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ công ty cổ phần T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu công ty TNHH S không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

  3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
  4. Công ty S phải nộp số tiền án phí 4.644.601 đồng

    Hoàn trả cho Công ty cổ phần T số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036492 ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  5. Quyền kháng cáo:
  6. Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi Tòa tuyên án mà có lý do chính đáng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/KDTM-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa

  • Số bản án: 50/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng vận chuyển
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger