|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hạnh Mỹ và ông Phạm Mã Siêu.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Lê Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2024/TLST - HNGĐ ngày 10/5/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lý Thị Hồng L, sinh năm 1968 (Có mặt).
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- - Bị đơn: Anh Bùi Văn K, sinh năm 1965 (Vắng mặt ).
- Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn - chị Lý Thị Hồng L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn K tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T kết hôn vào ngày 01 tháng 12 năm 1999. Sau khi kết hôn chị và anh K chung sống với nhau tại gia đình anh K ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh K hay nổi cáu và đánh đập chị. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị đã phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cùng xã T sinh sống từ năm 2004 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại tiếp tục chung sống với nhau được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.
Về quan hệ con chung: Chị và anh K có 01 con chung là Bùi Thị N, sinh ngày 11/11/2000 hiện đã thành niên và lập gia đình riêng.
Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh K không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Bùi Văn K nhiều lần nhưng anh K không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh và lấy lời khai của bố đẻ anh K là ông Bùi Văn N1, sinh năm 1928, trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2024 ông N1 trình bày: Hiện tại tình hình sức khoẻ của ông vẫn bình thường đủ minh mẫn để làm việc, ông là bố đẻ của anh Bùi Văn K, chị Lý Thị Hồng L và anh Bùi Văn K tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 01/12/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng anh K chị L chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ năm 2004 đến nay không chung sống cùng anh K. Nay chị L có đơn xin ly hôn anh K, quan điểm của gia đình ông cũng đồng ý ly hôn vì thực tế chị L bỏ đi đã lâu không quay về. Quá trình chung sống anh K và chị L có 01 con chung là Bùi Thị N, sinh ngày 11/11/2000 hiện nay cháu đã thành niên và lập gia đình riêng. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Anh K và chị Lưu k có gì chung về tài sản và công nợ.
Hiện tại anh K đang là gì, ở đâu thì ông không nắm được thi thoảng anh K có về nhà ông đã trao đổi cho anh K biết việc chị L xin ly hôn và đã được Toà thụ lý giải quyết nhưng anh K bận không về được cũng không thể hiện quan điểm thế nào.
Kết quả xác minh tại xã T, huyện T thể hiện: Chị Lý Thị Hồng L và anh Bùi Văn K tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 01/12/1999 tại ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn chị L về chung sống cùng gia đình anh K tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau. Từ năm 2004 chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống từ đó đến nay không quay về chung sống cùng anh K nữa. Quá trình chung sống chị L và anh K có 01 con chung là Bùi Thị N, sinh ngày 11/11/2000. Về tài sản chung và công nợ chung, địa phương không nắm được cụ thể. Hiện tại anh K không có mặt tại địa phương nhưng thỉnh thoảng anh K vẫn về nhà. Nay chị L có đơn xin ly hôn anh K, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn là chị L đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật luật tố tụng dân sự, bị đơn là anh Bùi Văn K không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Lý Thị Hồng L được ly hôn anh Bùi Văn K. Về quan hệ con chung: Chị L và anh K trực tiếp nuôi con chung Bùi Thị N, sinh ngày 11/11/2000 hiện đã thành niên và lập gia đình riêng nên không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
- Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét thấy nguyên đơn là chị Lý Thị Hồng L khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn K, anh K đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị L là đúng thẩm quyền.
Bị đơn là anh Bùi Văn K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh K là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Hồng L và anh Bùi Văn K tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 01/12/2000 xác định là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị L anh K mâu thuẫn và hiện tại chị L, anh K không còn chung sống với nhau từ năm 2004 đến nay (chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống), không ai còn quan tâm ai nữa. Nay chị L có đơn xin ly hôn anh K, anh K không đến Toà án làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình điều này thể hiện anh K cũng không muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa và không có ý thức níu kéo để vợ chồng về đoàn tụ. Từ những tình tiết nêu trên, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh K đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị L, xử cho chị L được ly hôn anh K là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Xét thấy con chung của chị L và anh K là Bùi Thị N, sinh ngày 11/11/2000 hiện đã thành niên và đã lập gia đình nên không đặt ra giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị L trình bày chị và anh K không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết, anh K không đến Toà án làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Lý Thị Hồng L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Thị Hồng L được ly hôn anh Bùi Văn K.
- Về quan hệ con chung: Chị Lý Thị Hồng L và anh Bùi Văn K có 01 con chung là Bùi Thị N, sinh ngày 11/11/2000 hiện đã thành niên và đã lập gia đình nên không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Lý Thị Hồng L phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị L đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002640 ngày 10/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải thành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Lý Thị Hồng L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Bùi Văn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị N2 |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nhi |
Nơi nhận:
- - VKSND huyện Tiền Hải;
- - UBND xã Tây Ninh;
- - Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ.
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LƯU - KIỆM
