|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 22-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Minh Thêu |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Ngô Quang Hậu |
| Ông Nguyễn Kim Hợp – Giáo viên |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Việt Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lý Đình Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Việt H
(tên gọi khác: không), sinh ngày 29 tháng 9 năm 2007 tại L - Hòa Bình.
Nơi cư trú: thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N, sinh năm 1986, con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 (mẹ ruột bị cáo); trú tại: thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phùng Thị T1 – TGVPL Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1958; trú tại: tổ B, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
+ Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1969; trú tại: SN A, phố H, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 (mẹ ruột bị cáo); trú tại: thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt
+ Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1995; trú tại: P - T - C - Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Đại diện Đoàn thanh niên xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình: Anh Nguyễn Thế A – Phó Bí thư Đoàn Thanh niên xã C. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 23/3/2024, Bùi Việt H, sinh ngày 29/9/2007; trú tại: thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình đi bộ từ nhà đến khu nghỉ dưỡng L thuộc thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình để vào đó chơi. Khi đi xung quanh khu nghỉ dưỡng, H thấy căn hộ BT6 khóa cửa bên ngoài nên H đã nảy ý định trộm cắp tài sản, sau đó H trèo qua cửa thông gió nhà vệ sinh vào bên trong nhà rồi rồi đi vào trong phòng ngủ và thấy có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen của ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1958; trú tại: tổ B, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội đang cắm sạc ở trên giường nên H rút sạc ra và cầm điện thoại cho vào túi quần bên trái mà H đang mặc. Sau đó H tiếp tục mở cửa tủ quần áo, thấy có một cặp xách màu đen, H mở cặp ra thấy trong đó có một phong bì và ví, H mở ví và phong bì ra thấy bên trong đều có tiền Việt Nam với tổng số tiền là 3.350.000 đồng là tiền của ông K. H cầm số tiền trên cho vào túi quần bên trái H đang mặc, còn ví, phong bì và cặp xách H để lại chỗ cũ. Khi quay ra phòng khách H nhìn thấy cuộn dây bằng kim loại màu đồng, dạng dây đồng điều hòa của ông Phạm Văn T2, sinh năm 1969; trú tại: SN A, phố H, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định; H cầm cuộn dây và mở cửa sau ngôi nhà rồi đi ra khỏi nhà. H mang cuộn dây bằng kim
loại màu đồng giấu tại ngôi nhà khác gần ngôi nhà H thực hiện hành vi trộm cắp để sau đó quay lại lấy đi bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, H mang điện thoại trộm được đến cửa hàng Đ ở Đ, T, C, Hà Nội bán cho chị Hoàng Thị L, sinh năm 1995; trú tại: thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (chủ cửa hàng) được 500.000 đồng. Khi bán chiếc điện thoại H nói với chị L là điện thoại đó của H. Sau đó, H sử dụng số tiền trộm cắp được mua chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus màu hồng tại cửa hàng của chị L với giá 2.500.000 đồng. Số tiền còn lại sau khi mua điện thoại di động là 1.350.000 đồng H đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 27/3/2024 nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật H đã đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, dung lượng 32GB, màu đen, đã qua sử dụng có giá trị là: 960.000 (Chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 4,55kg ống kim loại màu đồng (dây đồng máy điều hòa) đã qua sử dụng có giá trị là 634.000 (Sáu trăm ba mươi tư nghìn) đồng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen, đã qua sử dụng, kiểu máy: CPH1805, bộ nhớ thiết bị 32GB
- - 01 (Một) chiếc cặp có dây đeo màu đen, kích thước là 40cm x 32cm
- - Ống bằng kim loại màu đồng, dạng dây đồng điều hòa, khối lượng 4,55 kg, đường kính mặt cắt ngang là 1,6cm đã qua sử dụng.
- - 01 (Một) điện thoại Iphone 7Plus, màu hồng, mặt kính có vết nứt, đã qua sử dụng, số máy: MNR42LL/A, số seri: FCCW631CHG03.
Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Nguyễn Văn K đã được trả lại chiếc điện thoại di động bị trộm cắp và được gia đình Bùi Việt H bồi thường số tiền 3.350.000 đồng nên ông K không yêu cầu đề nghị gì về vấn đề sân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Ông Phạm Văn T2 đã được trả lại ống dây kim loại màu đồng nên ông T2 không có yêu cầu đề nghị gì về vấn đề dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Chị Hoàng Thị L đã được gia đình Bùi Việt H bồi thường số tiền 500.000 đồng mà chị L sử dụng để mua chiếc điện thoại OPPO A3s mà H trộm cắp nên chị L không yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự.
Cáo trạng số 46/CT-VKSLS ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố Bùi Việt H về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự đề nghị không xem xét.
Về xử ký vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý Phùng Thị T1 bào chữa cho bị cáo Bùi Việt H nêu quan điểm: Nhất trí với cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. TGVPL đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tuổi còn nhỏ, ham chơi, suy nghĩ chưa chín chắn; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có nơi cư trú rõ ràng, để đảm bảo đúng quy định của pháp luật đối với việc xử lý người chưa thành niên phạm tội, mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề xuất có phần nghiêm khắc và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Bùi Việt H không tranh luận với đại diện viện kiểm sát và không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và tiếp tục học hành.
Đại diện Đoàn thanh niên xã phát biểu ý kiến: xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập để có cơ hội sửa chữa sai làm và hoàn thiện bản thân.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Việt H khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận định giá và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 23/3/2024 tại căn hộ BT6, khu nghỉ dưỡng L thuộc thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn H1 đã có hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s màu đen trị giá 960.000 đồng và 3.350.000 đồng tiền mặt của ông Nguyễn Văn K; và cuộn dây dạng đồng điều hòa nặng 4,55 kg có giá trị 634.000 đồng của ông Phạm Văn T2. Tổng giá trị tài sản và tiền mặt H1 trộm cắp được có giá trị là 4.944.000 đồng. Số tiền trộm cắp được H1 đã chi tiêu cá nhân hết. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện L, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:
Bùi Việt H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị
cáo vẫn cố ý lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền, tài sản của ông Nguyễn Văn K và ông Phạm Văn T2, xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần có một mức án mang đủ tính giáo dục và răn đe bị cáo, nhưng cũng thể hiện được sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; khi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 5 tháng 23 ngày tuổi, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, số tiền bị cáo trộm cắp là lớn so với lứa tuổi. Xét lời bào chữa của TGVPL đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ là không phù hợp. Tuy nhiên bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo là người có nhân thân tốt, là người chưa thành niên, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, gia đình bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách tại địa phương nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không trái với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo việc cho bị cáo hưởng án treo không trái với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người chưa thành niên chưa đủ tuổi lao động. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn K, ông Phạm Văn T2, chị Hoàng Thị L. Bị hại, người liên quan đã xác nhận đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T là người đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại và người liên quan. Chị T không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đó nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với chị Hoàng Thị L là người mua chiếc điện thoại OPPO A3s mà H trộm cắp của ông Nguyễn Văn K và đối với việc H dùng 2.500.000 đồng tiền trộm cắp mua chiếc điện thoại Iphone 7 Plus của chị L. Quá trình điều tra xác định chị L không biết tài sản đó là do H phạm tội mà có và khi biết tài sản là do H trộm cắp chị L đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an. Nên xác định chị L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với các vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, màu đen, đã qua sử dụng, kiểu máy: CPH1805, bộ nhớ thiết bị 32GB; 01 (Một) chiếc cặp có dây đeo màu đen, kích thước là 40cm x 32cm; Ông bằng kim loại màu đồng, dạng dây đồng điều hòa, khối lượng 4,55 kg, đường kính mặt cắt ngang là 1,6cm đã qua sử dụng. Đã được trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 429 ngày 09/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
- 01 (Một) điện thoại Iphone 7Plus, màu hồng, mặt kính có vết nứt, đã qua sử dụng, số máy: MNR42LL/A, số seri: FCCW631CHG03 là tài sản của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí: Bị cáo Bùi Việt H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Việt H phạm tội: Trộm cắp tài sản.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Việt H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Việt H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Bùi Việt H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
* Trả lại cho bị cáo:
- 01 (một) điện thoại di động màu hồng, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, mặt kính có vết nứt, đã qua sử dụng, số máy: MNR42LL/A, số seri: FCCW631CHG03.
(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.)
3. Về án phí: Bị cáo Bùi Việt H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Việt Hùng phạm tội Trộm cắp tài sản
