Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 22-7-2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Hằng
  2. Bà Khuất Thị Minh Hiền

- Thư ký phiên tòa:

Ông Phan Trọng Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 161/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Bảo L, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn chị Đặng Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Bảo L xây dựng gia đình với nhau năm 2015, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung chỉ hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nguyên nhân, do hai bên bất đồng về quan điểm sống dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, vợ chồng ly thân từ tháng 5/2020. Chị T xác định hiện nay không còn tình cảm với anh L nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Về con chung chị T xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 11/9/2015, khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu anh L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 1.000.000đồng/ 1 tháng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị T không trình bày gì thêm.

Bị đơn anh Nguyễn Bảo L có đơn trình bày ý kiến: Anh và chị Đặng Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Do tình cảm không còn nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 05/2020. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Về con chung anh L xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 11/9/2015. Khi ly hôn anh đồng ý giao con cho chị T có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 1.000.000đồng/ 1 tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung anh L xác định vợ chồng tự thỏa thuận, về nợ chung anh L xác định vợ chồng không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh L không trình bày gì thêm.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vắng mặt nên không hòa giải được. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt nhưng anh L không có ý kiến gì nên Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cụ thể: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh L. Về con chung đề nghị giao con chung cho chị Đặng Thị T có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con, anh L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 1.000.000đồng/ 1 tháng. Về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: đề nghị buộc chị T, anh L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn cùng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Bảo L đăng ký kết hôn vào ngày 20 tháng 01 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân giữa chị T và anh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Quá trình chung sống chị T cho rằng không hạnh phúc nên chị T làm đơn ly hôn. Tại đơn trình bày ý kiến anh L cũng xác định do vợ chồng không có tiếng nói chung đã ly thân từ năm 2020 nên chị T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh L thì anh L đồng ý. Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh L là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay cãi nhau nhưng khi xảy ra mâu thuẫn thì các đương sự lại không tìm cách hàn gắn tình cảm khiến cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Các đương sự đã tự sống ly thân từ năm 2020, trong thời gian ly thân các đương sự không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau do tình cảm không còn. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của chị T, xử cho chị T và anh L được ly hôn.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 11/9/2015. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con còn anh L cũng đồng ý giao con cho chị T có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân thì cháu K vẫn sống cùng chị T, do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu được đi học, phát triển bình thường. Hơn nữa, cháu K hiện nay đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, giao con chung cho chị T có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: chị T yêu cầu anh L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 1.000.000đồng/ 1 tháng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Còn anh L cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con với số tiền theo như chị T yêu cầu. Vì vậy, cần buộc anh L cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 1.000.000đồng/ 1 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày án có hiệu lực cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung chị T xác định không có còn anh L xác định tự thỏa thuận; về nợ chung các đương sự cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu khởi kiện.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, xử cho chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Bảo L được ly hôn.

2/ Về con chung: Giao con là Nguyễn Minh K, sinh ngày 11/9/2015 cho chị Đặng Thị T có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh Nguyễn Bảo L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền 1.000.000đồng/ 1 tháng (một triệu đồng trên một tháng), thời gian cấp dưỡng kể từ ngày án có hiệu lực cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3/ Về án phí: chị Đặng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0004722 ngày 23/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị T đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Bảo L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - THA dân sự huyện Lâm Hà;
  • - Ban tư pháp xã nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Như Quỳnh

6

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Khuất Thị Minh Hiền

Trần Thị Hằng

Nguyễn Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ - ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn chị Đặng Thị Tú với bị đơn anh Nguyễn Bảo Lâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger