Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/DS-ST.

Ngày: 21-8-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Huỳnh Sinh.

2. Bà Bùi Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Địa chỉ trụ sở: T T, phường L quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức T1 - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 08/QĐ-BIDV.NT ngày 02/01/2024).

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn C - Chức vụ: Chuyên viên phụ trách xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 355/QĐ-BIDV.NT ngày 08/8/2023) (Có mặt).

2/ Bị đơn: Bà Bùi An B - sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày:

Ngày 20/9/2017, bà Bùi An B ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng số R72601/2017/HĐTD kèm bản Điều khoản và điều kiện vay (Viết tắt là Hợp đồng); cụ thể như sau: Số tiền vay: 80.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng; mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống cá nhân và gia đình; lãi suất cho vay trong hạn: 10%/năm và được áp dụng tới ngày 30/9/2017. Từ ngày 01/10/2017 áp dụng lãi suất thả nổi và được điều chỉnh 04 lần/năm vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất quá hạn áp dụng đối với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên số dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là 1%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời điểm bà B ký kết Hợp đồng với Ngân hàng, bà B đang công tác tại UBND phường Đ, thành phố P - T nên cam kết mỗi tháng sẽ trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 1.704.000 đồng; phương thức trả nợ thông qua đơn vị hoặc trích nợ tài khoản của bà B mở tại Ngân hàng.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà B đã trả cho Ngân hàng đến ngày 17/01/2024 được số tiền gốc là 8.700.000 đồng; số tiền lãi là 4.262.830 đồng. Do bà B thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ trên không liên tục nên Ngân hàng đã lấy ngày bà B trả nợ cuối cùng của năm 2020 là ngày 03/9/2020 để chuyển toàn bộ dư nợ gốc tại thời điểm này của bà B là 74.000.000 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn như đã thỏa thuận tại Hợp đồng đối với khoản vay của bà B. Từ ngày 04/9/2020 đến ngày 17/01/2024 bà B trả thêm cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 2.738.830 đồng.

Do bà B vi phạm nghĩa vụ tại Hợp đồng nên ông Nguyễn Văn C đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc bà Bùi An B phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 152.073.433 đồng; Trong đó: Số tiền gốc là 71.300.000 đồng; số tiền lãi trong hạn là 53.880.762 đồng; số tiền lãi quá hạn là 26.892.651 đồng. Buộc bà Bùi An B phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số nợ gốc chưa thanh toán tính từ ngày 22/8/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Bị đơn là bà Bùi An B: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Bùi An B không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Bùi An B phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 152.073.433 đồng; Trong đó: Số tiền gốc là 71.300.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn là 53.880.762 đồng; số tiền lãi quá hạn là 26.892.651 đồng và khoản lãi phát sinh của khoản nợ gốc đã được các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 22/8/2024 cho đến khi trả hết nợ vay.

Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Bùi An B phải trả số tiền còn nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng số R72601/2017/HĐTD. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn là bà Bùi An B không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, bà B vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1.1] Ngày 20/9/2017, giữa bà Bùi An B và Ngân hàng ký kết Hợp đồng tín dụng số R72601/2017/HĐTD. Căn cứ nhu cầu và thu nhập của bà B; Ngân hàng đã giải ngân và bà B đã nhận đủ số tiền vay là 80.000.000 đồng. Hợp đồng giữa Ngân hàng và bà B được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp; là cơ sở để giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

[2.1.2] Theo các tài liệu, chứng cứ Ngân hàng cung cấp thì quá trình thực hiện Hợp đồng, bà B đã thanh toán cho Ngân hàng từ ngày 20/9/2017 đến ngày 17/01/2024 được số tiền gốc là 8.700.000 đồng; số tiền lãi là 4.262.830 đồng. Sau đó bà B không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng N1 đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần.

[2.1.3] Như vậy, có cơ sở khẳng định bà Bùi An B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký kết; bà B là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật.

[2.2] Về lãi suất: Các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn theo Điều 4 của Hợp đồng; bà B đã biết và thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng từ ngày 20/9/2017 đến ngày 17/01/2024 mà không có ý kiến hay khiếu nại gì. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Bùi An B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên từ sau ngày 03/9/2020; Ngân hàng chuyển toàn bộ số dư nợ gốc tại thời điểm này của bà B là 74.000.000 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn như đã thỏa thuận là phù hợp với Điều 4 của Hợp đồng đã ký kết, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Bùi An B còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền nợ gốc phát sinh từ ngày 22/8/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong hợp đồng tín dụng của Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng; phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Từ các phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Bùi An B, có nội dung thể hiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B phải trả số tiền vay còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn phát sinh từ Hợp đồng nhưng bà B không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà B đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Ngân hàng yêu cầu bà Bùi An B thanh toán số tiền 152.073.433 đồng và được Tòa án chấp nhận toàn bộ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn là bà Bùi An B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.603.700 đồng (Đã làm tròn).

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự.

Các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

1. Buộc bà Bùi An B có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 152.073.433 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu, không trăm bảy mươi ba nghìn, bốn trăm ba mươi ba đồng); Trong đó: Số tiền gốc là 71.300.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu, ba trăm nghìn đồng); Số tiền lãi trong hạn là 53.880.762 đồng (Năm mươi ba triệu, tám trăm tám mươi nghìn, bảy trăm sáu mươi hai đồng); Số tiền lãi quá hạn là 26.892.651 đồng (Hai mươi sáu triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 22/8/2024); bà Bùi An B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

3. Về án phí:

3.1. Bà Bùi An B phải chịu: 7.603.700 đồng (Đã làm tròn) (Bảy triệu, sáu trăm linh ba nghìn, bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 3.352.000 đồng (Ba triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002743 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn có mặt - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 21/8/2024). Bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

- VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;

- Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/DS-ST. ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 50/2024/DS-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng B + bà Bùi An B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger