Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 50/2024/ HS-ST

Ngày 21 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang và bà Trương Thị Bích Tuyền.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phát Huy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Viễn P, sinh năm 1989, nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số C ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Mỹ T, sinh năm 1968; vợ Nguyễn Hồng L, sinh năm 1989; con 01 người, sinh năm 2013; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người cuối cùng.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/12/2023 cho đến nay.

Bị hại:

  • Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ H, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Lâm Văn P1, sinh năm 1986, nơi cư trú: số H, tổ D, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1984, nơi cư trú: Tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Cao Văn D, sinh năm 1964, nơi cư trú: Tổ B, ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng:

  • Bùi Văn T1, sinh năm 1983, vắng mặt;
  • Huỳnh Mỹ T, sinh năm 1968, vắng mặt;
  • Trịnh Minh T2, sinh năm 1986, vắng mặt;
  • Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1964, vắng mặt;
  • Lâm Văn H, sinh năm 1964, vắng mặt;
  • Nguyễn Thị Thụy V, sinh năm 1974.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên Huỳnh Viễn P nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể:

- Khoảng 17 giờ ngày 19/9/2023, P điều khiển xe mô tô, biển số 67G1 - 320.21 đến nhà Nguyễn Văn Q, nói dối xe không có giấy chứng nhận đăng ký, sợ điều khiển xe sẽ bị kiểm tra, xử phạt nên hỏi mượn xe mô tô, biển số 67H1 - 040.35 của Q để sử dụng, P để lại xe mô tô biển số 67G1 - 320.21 cho Q, tin thật, Q đồng ý giao xe cho P và sau đó P mang xe của Q cầm cho Nguyễn Văn N với số tiền 10.000.000 đồng.

- Khoảng 09 giờ ngày 22/9/2023, P điều khiển xe mô tô, biển số 67AC - 050.93 đến nhà trọ “A Tỷ” nói dối với P1 là P đi L mượn tiền, nhưng xe của P đã cũ, dễ bị hỏng khi đi đường xa, P hỏi mượn xe mô tô biển số 67E1 - 317.47 của P1 để đi, tin thật, P1 đồng ý giao xe cho P. Sau khi nhận xe, Phố kiểm tra, phát hiện trong cốp yên xe có 139.000.000 đồng, P lấy 137.000.000 đồng trả nợ và 2.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết và mang xe của P1 cầm cho Nguyễn Văn N với số tiền 13.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô, nhãn hiệu ANGELA SWMcc, biển số 67AC-050.93; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future, số loại KFLG110, màu xanh, biển số 67H1 - 040.35 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, tên Cao Văn D; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh - đen - bạc, biển số 67E1 - 317.47 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lâm Văn P1; 01 đĩa DVD.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 746/KL-ĐG ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, xác định: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future, số loại KFLG110, màu xanh, biển số 67H1 - 040.35, trị giá 14.000.000 đồng; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh - đen - bạc, biển số 67E1 - 317.47, trị giá 11.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Huỳnh Viễn P để điều tra, xử lý.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSCĐ-HS ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Huỳnh Viễn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

  • - Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
  • - Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: phù hợp với kết luận định giá tài sản; lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra và kiểm chứng tại phiên tòa hôm nay.

Từ những chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để xác định bị cáo đã có hành vi nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn Q, trị giá 14.000.000 đồng; của Lâm Văn P1, tổng trị giá 150.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 164.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện sự xem thường pháp luật, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là học lực thấp; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Viễn P từ 04 đến 05 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô, nhãn hiệu ANGELA SWMcc, biển số 67AC-050.93; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future, số loại KFLG110, màu xanh, biển số 67H1 - 040.35 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, tên Cao Văn D; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh - đen - bạc, biển số 67E1 - 317.47 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lâm Văn P1, đã trao trả tài sản cho chủ sở hữu nên không đề cập xử lý; 01 đĩa DVD, tiếp tục lưu giữ hồ sơ.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết. Riêng, ông Nguyễn Văn N đã nhận số tiền bồi thường 4.000.000 đồng và tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 19.000.000 đồng tại phiên tòa bị cáo chấp nhận. Do đó, đề nghị buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 19.000.000 đồng.

Về vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn N, khi nhận cầm xe, không biết đây là tài sản do P phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đối với N là có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa và đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung:

[3] Hành vi phạm tội:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận, do cần tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt, cụ thể bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để mượn xe của Q và P1 mang đi cầm và chiếm đoạt thêm số tiền của P1 để trong cốp xe như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, kết luận định giá, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định bị cáo P đã có hành vi nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn Q, trị giá 14.000.000 đồng; của Lâm Văn P1, trị giá 150.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 164.000.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát thành phố C truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu xài cá nhân, lười lao động, bị cáo đã sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Xét, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, mỗi lần thực hiện đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động; hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét. Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 19.000.000 đồng. Xét, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 19.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn N.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu ANGELA SWMcc, biển số 67AC-050.93; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future, số loại KFLG110, màu xanh, biển số 67H1 - 040.35 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, tên Cao Văn D; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh - đen - bạc, biển số 67E1 - 317.47 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lâm Văn P1, đã trao cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Huỳnh Mỹ T, các bị hại Nguyễn Văn Q và Lâm Văn P1, nên không đề cập xem xét giải quyết.

- Đối với 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh bị cáo P chiếm đoạt xe mô tô của bị hại Phến, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[8] Vấn đề khác: Nguyễn Văn N, khi nhận cầm xe, không biết đây là tài sản do P phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đối với N là có căn cứ.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Viễn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Viễn P: 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Huỳnh Viễn P được tính kể từ ngày 23/12/2023.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Huỳnh Viễn P có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng).

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD.

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Huỳnh Viễn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 950.000 (chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ông Lâm Văn P1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Quang Chân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: P phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger