|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI ————————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 50/2025/KDTM - ST Ngày : 18/11/2025 V/v: Tranh chấp Hợp đồng thi công |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Tuyết Trang
Bà Nguyễn Thị Huyền Nga
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Ngọc Tú – Thư ký Tòa án nhân dân dân
khu vực 3 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội: Bà Chu Thị Hồng Nhung –
Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 22/2025/TLST - KDTM ngày 23 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp: Hợp đồng thi công.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 240/2025/QĐ-ST ngày 23/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:554/2025/QĐ-PT ngày 04/11/2025 giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội
Trụ sở: Tầng 9, Tòa nhà Vinafor, số 127 Lò Đúc, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (nay là Tầng 9, Tòa nhà Vinafor, số 127 Lò Đúc, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội)
Đại diện theo pháp luật: Ông Matsuura M – Chủ tịch Công ty
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh H, Hoàng Phương T
Địa chỉ liên hệ: Số D, ngõ A L, tổ B, phường T, quận C, Hà Nội.
(Nay là: Số D, ngõ A L, tổ B phường Y, thành phố Hà Nội)
(Có mặt bà T, vắng mặt ông T1)
- Bị đơn: Công ty TNHH T2
Trụ sở: Số 81 Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
(Nay là: Số 81 Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thành V – Tổng Giám đốc
1
(Đều vắng mặt)
Bà Nguyễn Minh H1 – Phó Tổng Giám đốc
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội (Sau đây gọi tắt là Công ty H2 hoặc Nguyên đơn) và Công ty TNHH T2 (Sau đây gọi tắt là Công ty T2 hoặc Bị đơn) đã ký kết và thực hiện các hợp đồng sau:
Hợp đồng kinh tế số 2512/2021/HĐTTB/DELTA-HVH ngày 25/12/2021 về việc cung cấp, thi công lắp dựng và tháo dỡ thép hình tại dự án “Trung tâm thương mại -” (Sau đây gọi tắt là Hợp đồng 2512). Thực hiện Hợp đồng 2512, Công ty H2 đã hoàn thành nghĩa vụ cung cấp, thi công lắp dựng và tháo dỡ thép hình tại dự án. Thực hiện việc quyết toán theo Hợp đồng số 2512, ngày 14/11/2022, các Bên đã ký xác nhận hồ sơ quyết toán và Công ty H2 gửi giấy đề nghị thanh toán, xuất Hóa đơn số 181 cho Công ty T2. Theo đó, tổng giá trị quyết toán (đã bao gồm VAT) là 273.627.912 đồng. Tuy nhiên, Công ty T2 mới thanh toán số tiền là 59.371.453 đồng vào ngày 29/3/2022 nên số tiền nợ gốc Công ty T2 còn phải trả Công ty H2 theo hợp đồng 2512 là 214.256.459 đồng
Hợp đồng thi công số 0806/2022/HĐTC/DELTA – HVH ngày 08/6/2022 về việc thuê và thi công hệ sàn tạm công trình “Nhà hát H3” (Sau đây gọi tắt là Hợp đồng 0806). Thực hiện hợp đồng 0806, Công ty H2 đã hoàn thành nghĩa vụ cung cấp, thi công lắp dựng và tháo dỡ thép hình tại dự án. Thực hiện việc quyết toán theo Hợp đồng, ngày 28/12/2023, các Bên đã ký xác nhận hồ sơ quyết toán. Theo đó, tổng giá trị quyết toán (đã bao gồm VAT) là 685.905.386 đồng. Tuy nhiên tới nay, Công ty T2 mới thanh toán số tiền là 132.070.240 đồng vào ngày 11/8/2022 là giá trị tạm ứng để thực hiện Hợp đồng số 0806 nên số tiền nợ gốc còn lại Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty H2 theo hợp đồng 0806 là 553.835.146 đồng
Theo quy định tại Điều 4 Hợp đồng số 0806, Công ty H2 xuất 03 Hóa đơn giá trị gia tăng tương ứng với các hồ sơ đề nghị tạm ứng; thanh toán đợt 1, quyết toán. Theo đó, Công ty T2 sẽ có trách nhiệm thanh toán giá trị thanh toán/ thanh toán giá trị quyết toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày hồ sơ được phê duyệt.
Tới nay, dù Hợp đồng số 0806 đã được quyết toán và hai bên đã ký Biên bản thanh lý Hợp đồng, Công ty T2 vẫn chưa thanh toán cho Công ty H2 số tiền còn lại là 553.835.146 đồng.
Như vậy, tổng giá trị công nợ gốc còn lại theo các Hợp đồng số 2512 và Hợp đồng số 0806 là 768.091.605 đồng.
Ngày 10/02/2025, Công ty H2 đã gửi Công văn số 01/2025/CV-HH đến Công ty T2 yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc còn lại là của cả 2 dự án là 768.091.605 đồng nhưng đến nay Công ty H2 không nhận được phản hồi cũng như thanh toán từ Công ty Delta
2
Việc Công ty Delta chậm trễ thanh toán khoản công nợ theo các hợp đồng đã ký kết nêu trên là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty H2. Căn cứ Điều 306 Luật Thương Mại, Công ty T2 còn phải thanh toán cho Công ty H2 tiền lãi chậm trả đối với số tiền nợ gốc còn lại nêu trên, tạm tính đến ngày 18/3/2025 với mức lãi suất tạm tính là 12%/năm với số tiền là 186.620.505 đồng.
Căn cứ các điều: 30, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2025, Công ty H2 đề nghị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội) thụ lý giải quyết buộc Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty H2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/3/2025 là 947.712.111 đồng. Trong đó:
Nợ gốc là: 768.091.605 đồng
Lãi chậm trả: 186.620.505 đồng.
Ngày 05/5/2025, Công ty H2 có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Theo đó, Công ty H2 thay đổi yêu cầu khởi kiện về lãi chậm trả, giảm mức lãi suất từ từ 12% /năm tại đơn khởi kiện ban đầu xuống còn 10%/năm
Ngày 27/10/2025, Công ty H2 có bản ý kiến về việc giữ nguyên yêu cầu nợ gốc và giảm mức lãi chậm trả xuống còn 9%/năm. Cụ thể:
Đối với hợp đồng số 2512: Công ty T2 chưa thanh toán số tiền 214.256.459 đồng và phải chịu tiền lãi do chậm trả tính từ ngày 14/12/2022.
Tạm tính đến ngày 18/11/2025 tiền lãi là: 56.528.485 đồng.
Đối với hợp đồng 0806:
Đối với giá trị tạm ứng theo thỏa thuận hai bên trong Hợp đồng, hóa đơn số 106 ngày 27/7/2022, Công ty T2 đã thanh toán số tiền là 132.070.240 đồng, không làm phát sinh lãi suất chậm trả;
Đối với giá trị thanh toán đợt 1 theo hồ sơ đề nghị thanh toán, hóa đơn số 187 cùng ngày 28/11/2022, số tiền cần phải thanh toán là 406.279.415 đồng. Công ty T2 chưa thanh toán, làm phát sinh lãi suất chậm trả (tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 18/11/2025) là 105.788.481 đồng.
Đối với giá trị thanh toán đợt quyết toán theo hồ sơ đề nghị thanh toán, hóa đơn số 118 cùng ngày 28/12/2023, số tiền cần phải thanh toán đợt quyết toán là 147.555.731 đồng. Công ty T2 chưa thanh toán, làm phát sinh lãi suất chậm trả (tính từ ngày 27/01/2024 đến ngày 18/11/2025) là 24.049.563 đồng.
Lãi chậm trả đối với hợp đồng 0806 là 129.838.044 đồng
Như vậy, tạm tính tới ngày 18/11/2025, tổng số tiền lãi chậm trả Công ty T2 còn phải thanh toán theo hai hợp đồng cho Công ty H2 là 186.366.529 đồng (trong đó, theo Hợp đồng số 2512 là : 56.528.485 đồng; Hợp đồng số 0806 là 129.838.044 đồng).
3
Do đó, Công ty H2 đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội giải quyết, buộc Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty H2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/11/2025 là 954.458.134 đồng. Trong đó:
Số tiền nợ gốc: 768.091.605 đồng (bằng chữ: Bảy trăm sáu mươi tám triệu không trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm linh năm đồng);
Tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 18/11/2025, với mức lãi suất 9%/năm: 186.366.529 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi chín đồng).
Bị đơn là Công ty T2 do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty T2 đã nắm được yêu cầu khởi kiện của Công ty H2. Các bên đã làm việc về phương án xử lý công nợ. Công ty được Tòa án cho tiếp cận hồ sơ, Công ty xác nhận dự án đã được các bên ký biên bản thanh lý, quyết toán với số tiền phải thanh toán theo hồ sơ quyết toán là 768.091.605 đồng (hợp đồng số 2512/2021 và hợp đồng số 0806/2023). Công ty sẽ kiểm tra tình trạng thanh toán khoản nợ và sẽ phản hồi lại sau.
Về việc tham gia tố tụng: Công ty T2 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng chỉ tham gia tố tụng vào ngày 31/7/2025 và có lời khai nêu trên. Công ty xác nhận đã nhận được Thông báo số 255/TB-TA ngày 21/7/2025 của Tòa án về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng cũng như được tiếp cận các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhưng sau ngày 31/7/2025 Công ty không gửi bản khai chi tiết và giao nộp các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn không nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới và trình bày:
Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn. Các hợp đồng thi công được các bên ký kết là đúng quy định. Các bên đã ký hồ sơ quyết toán, biên bản thanh lý hợp đồng. Nguyên đơn đã xuất hóa đơn VAT cho bị đơn nên bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi cho nguyên đơn.
Về mức lãi suất chậm thanh toán: Nguyên đơn áp dụng mức lãi suất 9%/năm là có lợi cho bị đơn so với mức lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP K (là ngân hàng nơi Công ty H2 mở tài khoản) công bố tháng 10/2025.
Đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty TNHH T2 phải thanh toán cho Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội tiền nợ gốc và lãi chậm trả theo Hợp đồng kinh tế số 2512/2021/HĐTTB/DELTA-HVH ngày 25/12/2021 và Hợp đồng thi công số 0806/2022/HĐTC/DELTA–HVH ngày 08/6/2022 tổng số tiền tính đến ngày 18/11/2025 là: 954.458.134 đồng.Trong đó: Nợ gốc là: 768.091.605 đồng. Lãi chậm trả là: 186.366.529 đồng. Cụ thể: Đối với Hợp đồng số 2512/2021/HĐTTB/DELTA-HVH ngày 25/12/2021.Nợ gốc là: 214.256.459 đồng Lãi chậm trả là: 56.528.485 đồng.Với Hợp đồng số 0806/2022/HĐTC/DELTA–HVH ngày 08/6/2022. Nợ gốc là: 553.835.146 đồng Lãi chậm trả là: 129.838.044 đồng.
Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu bị đơn tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến thời điểm bị đơn thanh toán hết khoản nợ
4
Đại diện Viện kiểm sát khu vực 3 – Hà Nội phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc chấp hành pháp luật: Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ việc: Các hợp đồng thi công và phụ lục hợp đồng kèm theo được các bên ký kết đúng về thẩm quyền, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật, việc ký kết hợp đồng là tự nguyện nên phát sinh hiệu lực. Quá trình thực hiện hợp đồng, đối với hợp đồng 2512 các bên đã ký xác nhận hồ sơ quyết toán. Điều 5 hợp đồng quy định thời hạn bị đơn thanh toán là 30 ngày kể từ thời điểm bị đơn nhận đủ hồ sơ quyết toán ( ngày 14/12/2022). Đối với hợp đồng 0806 các bên cũng đã ký xác nhận hồ sơ quyết toán. Điều 4 hợp đồng quy định Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty H2 trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký biên bản nghiệm thu, hồ sơ quyết toán, thanh lý hợp đồng (ngày 27/01/2024). Nguyên đơn đã xuất các hóa đơn giá trị gia tăng đối với bị đơn. Tại Tòa án, bị đơn cũng đã thừa nhận nợ gốc. Như vậy, đã quá thời hạn thanh toán nhưng bị đơn vẫn chưa thanh toán đủ cho nguyên đơn nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nợ gốc theo hai hợp đồng đã ký với tổng số tiền là 468.091.605 đồng như yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay.
Về nợ lãi chậm thanh toán: Áp dụng Điều 43 nghị định 37/2005/NĐ-CP của Chính Phủ thì mức lãi suất vay của Ngân hàng TMCP K công bố tháng 11/2025 là 6,46% nên mức lãi suất quá hạn là 9,69%/năm. Nguyên đơn tự nguyện áp dụng mức lãi suất 9% là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.
Xác định thời điểm vi phạm thời hạn thanh toán: Các hợp đồng đều thỏa thuận thời hạn thanh toán là 30 ngày kể từ khi hai bên quyết toán và thanh lý hợp đồng nên Nguyên đơn xác định ngày chậm thanh toán đối với hợp đồng 2512 là ngày 14/12/2022, đối với hợp đồng 0806 là ngày 28/12/2022 và 27/01/2023 là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nợ gốc và lãi của nguyên đơn.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
5
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng thi công. Các bên đều là các pháp nhân được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp. Theo quy định tại khoản 1 điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án về kinh doanh thương mại.
Tại Điều 7 của Hợp đồng số 2512/2021 các bên thỏa thuận: Nếu tranh chấp không được giải quyết trong vòng 30 ngày kể từ ngày một bên gửi thông báo bằng văn bản đến bên kia về tranh chấp, một trong hai bên có thẩm quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Phán quyết của Tòa án cuối cùng và có hiệu lực áp dụng đối với các bên
Thấy rằng, thỏa thuận của các bên về việc lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là không phù hợp với quy định tại các điều 37, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự nên không phát sinh hiệu lực. Hội đồng xét xử xác định thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 14.5 điều 14 Hợp đồng số 0806/2022 các bên thỏa thuận: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có phát sinh tranh chấp mà đôi bên không tự giải quyết được bằng thương lượng thì sẽ được đưa ra giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền.
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty T2 (thay đổi lần thứ 18 ngày 07/12/2024 và thay đổi lần thứ 19 ngày 25/7/2025) thể hiện: Trụ sở chính của Công ty T2 tại: Số H L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Theo Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thương vụ Q (Có hiệu lực từ 01/7/2025) về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 Ủy ban thường vụ Q về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025; Khoản 2 điều 1 Luật số 85/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự... thì Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội có thẩm quyền tiếp tục giải quyết vụ án.
Sự có mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn chỉ tham gia tố tụng vào ngày 31/7/2025. Hội đồng xét xử xác định, việc tống đạt cho bị đơn là hợp lệ, tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn vắng mặt không có lý do nên được coi là bị đơn từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố
6
tụng của mình. Căn cứ khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
Giữa Công ty H2 và Công ty T2 có ký kết các hợp đồng thi công sau đây: Hợp đồng kinh tế số 2512 ngày 25/12/2021 và Hợp đồng thi công số 0806 ngày 08/6/2022. Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xem xét việc ký kết, thực hiện hợp đồng cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật.
Ngày 25/12/2021, các bên ký kết Hợp đồng kinh tế số 2512 với nội dung cơ bản như sau: Công ty T2 giao Công ty H2 cung cấp, thi công lắp dựng và tháo dỡ thép hình tại dự án “Trung tâm thương mại - ”. Giá trị hợp đồng tạm tính: 118.742.906 đồng. Thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. Về tiến độ thanh toán: Sau khi nguyên đơn hoàn thành bàn giao vật tư tới công trường, bên A tạm ứng 50% giá trị hợp đồng trong thời hạn 7 ngày làm việc. Về quyết toán: Sau khi nguyên đơn vận chuyển toàn bộ vật tư về kho thì 2 bên tiến hành quyết toán giá trị theo thực tế thời gian. Nguyên đơn xuất hóa đơn quyết toán cho bị đơn, hai bên đối chiếu công nợ và bị đơn thanh toán nốt giá trị còn lại cho nguyên đơn trong vòng 30 ngày kể từ ngày bị đơn nhận đủ hồ sơ quyết toán. Ngoài ra, hợp đồng còn ghi nhận các thỏa thuận khác của các bên.
Ngày 01/8/2022 các bên ký phụ lục hợp đồng số 01 kèm theo hợp đồng 2512 với nội dung khối lượng giá trị phát sinh (tăng 17.005.360 đồng)
Ngày 08/6/2022, nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng thi công số 0806 với nội dung cơ bản sau: Bị đơn giao nguyên đơn thực hiện công việc: Thuê và thi công hệ sàn tạm cho công trình Nhà hát H3 tại địa chỉ số: 40, D H, H, Hà Nội. Giá trị hợp đồng tạm tính là 660.351.204 đồng. Hình thức thanh toán: Chuyển khoản. Thanh toán khối lượng hoàn thành: Trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày hồ sơ thanh toán đầy đủ được bên A (bị đơn) phê duyệt, bên A có trách nhiệm thanh toán cho bên B (nguyên đơn) 85% giá trị khối lượng thực hiện được bên A xác nhận. Trong vòng 30 ngày sau khi các bên ký biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục đưa vào sử dụng, hồ sơ quyết toán, thanh lý hợp đồng đã được bên A phê duyệt thì bên A sẽ thanh toán cho bên B đến 100% giá trị quyết toán.
Ngày 02/8/2022 các bên ký phụ lục hợp đồng số 01 kèm hợp đồng 0608 với nội dung thay đổi tài khoản bên nhận thầu và bổ sung giá trị khối lượng phát sinh.
7
Thấy rằng, các hợp đồng và các phụ lục hợp đồng đều được người đại diện theo pháp luật của các bên đại diện ký kết, hình thức của hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật. Nội dung của hợp đồng được các bên tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Các bên thừa nhận việc ký kết và các nội dung của hợp đồng nên hợp đồng phát sinh hiệu lực.
Về việc thực hiện hợp đồng:
Tài liệu, hồ sơ thể hiện: Sau khi ký kết hợp đồng, nguyên đơn đã thực hiện các nội dung công việc theo thỏa thuận tại hợp đồng.
Đối với hợp đồng số 2512:
Ngày 14/11/2022 các bên đều xác nhận vào bảng tổng hợp giá trị khối lượng thanh quyết toán công việc hoàn thành. Về phía Công ty T2 do người đại diện theo pháp luật là ông Trần Thành V trực tiếp ký xác nhận tổng giá trị quyết toán theo hợp đồng là 273.627.912 đồng. Cùng ngày 14/11/2022 đại diện theo pháp luật của Công ty T2 xác nhận vào bảng tổng hợp giá trị đề nghị quyết toán (giá trị đề nghị thanh toán, quyết toán) là 214.256.459 đồng.
Như vậy, xác nhận Công ty T2 còn nợ của Công ty H2 số tiền nợ gốc theo hợp đồng số 2512 là 214.256.459 đồng.
Đối với hợp đồng số 0806:
Ngày 28/12/2023, các bên cùng ký kết biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình. Theo đó, đại diện bị đơn xác nhận về chất lượng là đảm bảo yêu cầu kỹ thuật phù hợp hồ sơ bản vẽ thiết kế, biện pháp thi công được chấp thuận,. Về tiến độ: Thi công đạt tiến độ theo yêu cầu của hợp đồng và bị đơn đồng ý nghiệm thu hạng mục công trình.
Cùng ngày 28/12/2023, đại diện theo pháp luật của hai bên cùng ký kết biên bản thanh lý hợp đồng với nội dung: Bên B (Công ty H2) đã hoàn thành nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Bên A (Công ty T2) có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại là 553.835.146 đồng. Kèm theo đó, đại diện hai bên ký bảng tổng hợp giá trị khối lượng công việc hoàn thành quyết toán với tổng giá trị quyết toán là 658.905.386 đồng và B tổng hợp giá trị đề nghị quyết toán (Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty H2) với số tiền là 553.835.146 đồng
Như vậy, xác nhận Công ty T2 còn nợ của Công ty H2 số tiền nợ gốc theo hợp đồng số 0806 là 553.835.146 đồng
Như vậy, có căn cứ cho rằng Công ty T2 còn nợ Công ty H2 tổng số tiền nợ gốc theo 02 hợp đồng đã ký nêu trên là: 786.091.605 đồng.
Tại bản khai gửi Tòa án, đại diện bị đơn cũng xác nhận việc ký kết và thực hiện hợp đồng như sau: Công ty xác nhận dự án đã được các bên ký biên bản thanh
8
lý, quyết toán với số tiền phải thanh toán theo hồ sơ quyết toán là 768.091.605 đồng (hợp đồng số 2512/2021 và hợp đồng số 0806/2023).
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền nợ gốc còn thiếu tổng số 768.091.605 đồng theo 02 hợp đồng đã ký là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Hợp đồng số 2512 các bên không thỏa thuận về lãi chậm trả.
Hợp đồng số 0806 quy định tại khoản 7.4 Điều 7 về phạt vi phạm như sau: “Bất kỳ đợt thanh toán chậm nào cũng không được quá 15 ngày kể từ ngày hết thạn thanh toán theo quy định tại điều khoản phương thức thanh toán của hợp đồng. Nếu quá thời hạn 15 ngày nêu trên, bên B có quyền tính lãi suất chậm thanh toán cho các khoản thanh toán tới hạn nhưng chưa thanh toán bằng với lãi suất vay quá hạn do ngân hàng thương mại công bố trên tổng số tiền chậm thanh toán tính từ ngày đến hạn thanh toán cho đến ngày bên A thanh toán thực tế cho bên B”
Thấy rằng: Hợp đồng số 2512 các bên không thỏa thuận về lãi chậm trả, Hợp đồng 0806 các bên có thỏa thuận về lãi chậm thanh toán nhưng thỏa thuận của các bên lại không nêu rõ mức lãi suất chậm thanh toán do ngân hàng T3 nào công bố nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để áp dụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định của pháp luật để tính lãi chậm trả đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Thấy rằng, tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về xây dựng nên áp dụng Luật xây dựng và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết tranh chấp.
Điều 144 Luật xây dựng quy định:
“... Các bên hợp đồng thỏa thuận về phương thức thanh toán, thời gian thanh toán, hồ sơ thanh toán và điều kiện thanh toán. Bên giao thầu phải thanh toán đủ giá trị của từng lần thanh toán cho bên nhận thầu sau khi đã giảm trừ tiền tạm ứng, tiền bảo hành công trình theo thỏa thuận hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác...”
Như đã phân tích nêu trên, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Theo quy định tại khoản 2 điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/4/2015 về hướng dẫn chi tiết hợp đồng xây dựng quy định:
“Trường hợp, bên giao thầu thanh toán không đúng thời hạn và không đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải bồi thường cho bên nhận thầu theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán. Lãi chậm thanh toán được tính từ ngày đầu tiên chậm thanh toán cho đến khi bên giao thầu đã thanh toán đầy đủ cho bên nhận thầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”
9
Theo 02 hợp đồng các bên đã ký kết, Công ty H2 là bên nhận thầu mở tại khoản tại Ngân hàng TMCP K (T4). Theo công bố mức lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng doanh nghiệp thời điểm tháng 9/2025(công bố ngày 10/10/2025) của Ngân hàng TMCP K thì mức lãi suất vay áp dụng là 6,24%/năm nên mức lãi suất quá hạn (bằng 150% lãi vay trong hạn) là 9,36% /năm là mức lãi suất được áp dụng để tính lãi chậm trả đối với Công ty T2.
Theo đơn khởi kiện ban đầu, Công ty H2 yêu cầu thanh toán lãi chậm trả với mức lãi suất 12%/năm. Đến nay, Công ty H2 tự nguyện điều chỉnh giảm còn 9%/năm.
Hội đồng xét xử thấy rằng, theo quy định của pháp luật thì mức lãi suất áp dụng để tính lãi chậm trả đối với Công ty T2 là 9,36%/năm như đã phân tích nêu trên. Tuy nhiên, Công ty H2 chỉ áp dụng mức lãi suất 9%/năm làm căn cứ tính lãi chậm trả. Việc giảm mức lãi suất chậm trả của Công ty H2 là tự nguyện, có lợi cho Công ty T2 và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Đối với hợp đồng số 2512:
Theo hợp đồng 2512 các bên thỏa thuận: Bên A thanh toán nốt giá trị còn lại cho bên B trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bên A nhận đủ hồ sơ quyết toán.
Ngày 14/11/2022, các bên đã ký xác nhận hồ sơ quyết toán và Công ty H2 gửi Giấy đề nghị thanh toán, xuất hóa đơn cho Công ty T2 nên xác định thời gian chậm thanh toán tính từ ngày 14/12/2022. Vì vậy, số tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm 18/11/2025 là : 214.256.459 đồng x 1070 ngày x 9%/365 = 56.528.485 đồng.
Đối với hợp đồng 0806:
Các bên thỏa thuận: Trong vòng 30 ngày sau khi các bên ký biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục đưa vào sử dụng, hồ sơ quyết toán, thanh lý hợp đồng đã được bên A phê duyệt, bên A sẽ thanh toán cho bên B đến 100% giá trị quyết toán.
Theo hồ sơ thanh toán đợt 1 thì Công ty T2 còn phải thanh toán 406.279.415 đồng. Ngày 28/11/2022 Công ty H2 đã xuất hóa đơn cho Công ty D nên thời gian tính lãi được tính từ ngày 28/12/2022 đến ngày 18/11/2025
Với giá trị thanh toán đợt quyết toán thì Công ty T2 còn phải thanh toán là 147.555.731 đồng. Ngày 28/12/2023 Công ty H2 đã xuất hóa đơn VAT cho Công ty T2 nên thời gian tính lãi tính từ ngày 27/01/2024
Vì vậy, số tiền lãi theo hợp đồng 0806 là (406.279.415 đồng x 1056 ngày x 9%/ 365 ) + (147.555.731 đồng x 661 ngày x 9%/365) = 129.838.044 đồng
Tổng lãi chậm trả theo hai hợp đồng là:
56.528.485 đồng + 129.828.044 đồng = 186.366.529 đồng.
Từ những phân tích trên, thấy rằng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc, lãi theo 02 hợp đồng thi công các bên đã ký kết là có căn cứ nên cần chấp nhận.
10
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ : khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 48, điều 235, điều 264, điều 266, điều 271, điều 273, điều 278, điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Luật sửa đổi bổ sung Luật tố tụng dân sự 2025 (có hiệu lực từ 01/7/2025).
Căn cứ các điều: 278, 353, 357, 385, 398, 401, 468 Bộ luật dân sự 2015
Căn cứ các điều 125,138,139,144,145,146,147, 296 Luật xây dựng 2014
Căn cứ Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 về hướng dẫn chi tiết Hợp đồng xây dựng;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội. Buộc Công ty TNHH T2 phải thanh toán cho Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội tiền nợ gốc và lãi chậm trả theo: Hợp đồng kinh tế số 2512/2021/HĐTTB/DELTA-HVH ngày 25/12/2021 và Hợp đồng thi công số 0806/2022/HĐTC/DELTA–HVH ngày 08/6/2022 tổng số tiền tính đến ngày 18/11/2025 là: 954.458.134 đồng (Chín trăm năm mươi tư triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn một trăm ba mươi tư đồng). Trong đó:
- Nợ gốc là: 768.091.605 đồng (Bảy trăm sáu mươi tám triệu, không trăm chín mươi mốt nghìn, sáu trăm linh năm đồng).
- Nợ lãi chậm trả là: 186.366.529 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi chín đồng)
11
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Công ty TNHH T2 phải chịu 40.633.744 đồng (Bốn mươi triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm
- Hoàn trả Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 25020 ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (nay là Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hà Nội).
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Dương Thị Huệ |
12
Các Thẩm phán
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hoàng Minh Thành
13
Các Thẩm phán
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Hoàng Minh Thành
14
|
Nơi nhân:
|
TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Minh Thành |
15
Bản án số 50/2025/KDTM - ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 50/2025/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH H2 (Việt Nam) Hà Nội - Công ty TNHH T2
