Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày: 24/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thành Viên.

2. Bà Võ Thị Mai.

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thảo Nguyên – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Vũ Kim Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh - Số D đường D, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025, đối với bị cáo:

Trần Hoàng V; sinh ngày 15 tháng 6 năm 1995, tại Bến Tre; hộ khẩu thường trú: Số A đường H, Phường 1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Ngọc K; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không

Tạm giam ngày 07/5/2024 (Có mặt)

Bị hại: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 2006; địa chỉ: Số F đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F đường N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do căn cước công dân của Trần Hoàng V bị thất lạc, V không thể đi xin việc làm được nên V nảy sinh ý định là gắn hình của mình vào thẻ căn cước công dân của Đặng Văn M (do Vũ lượm được) và ép nhựa lại để sử dụng. Khoảng tháng 01/2024, V lên mạng "Facebook" tìm kiếm người làm bộ hồ sơ xin việc. Lúc này V liên hệ được một người sử dụng Z có nickname "Tuấn A" (không rõ lai lịch) để làm giả bộ hô sơ xin việc theo thông tin của “Đặng Văn M" với giá 450.000 đông. Sau khi làm xong V chuyển số tiền 300.000 đồng qua ví Momo cho "Tuấn A", còn 150.000 đồng thanh toán cho người shipper tại nhà trọ của V tại địa chỉ: Số A đường P, xã V, huyện B, Thành phố H. Sau khi có hồ sơ xin việc, ngày 23/04/2024, V xin vào làm Công ty bảo vệ vệ sĩ "An Việt" và được điều phối đến quán C, địa chỉ: Số A đường L, Phường A, quận G làm bảo vệ giữ xe.

Vào lúc 10 giờ ngày 28/04/2024, anh Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô Airblade biển số 59G2-981.85 đến quán C để uống cà phê. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, anh H lấy xe ra về thì V nói cho V mượn xe đi mua cơm một lát sẽ quay lại trả và được anh H đồng ý. Trên đường chạy xe mua cơm do không có tiền tiêu xài, V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh H để chạy xe ôm nên đã điều khiển xe chạy về nhà trọ tại địa chỉ: Số A đường P, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để cất giấu. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, anh H đã đến Công an P1, quận G trình báo sự việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Trần Hoàng V khai nhận hành vi phạm tội đã nêu trên.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G xác định: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 59G2-981.85, số khung RLHJF6339MZ157006, số máy JF94E0391809, đã qua sử dụng trị giá 30.266.667 đồng.

Căn cứ kết luận giám định số 3562/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “*U.B.N.D PHƯỜNG CHÁNH PHỦ HÒA T.X BÊN CÁT T.BÌNH DƯƠNG" và «*CÔNG AN PHƯỜNG CHÁNH PHÚ HÒA * CÔNG AN THỊ XÃ BẾN CÁT-T.BÌNH DƯỞNG" trên tài liệu cấn giám định (ký hiệu từ A1 đến A) so với hình dấu tròn có nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 59G2-981.85, số khung RLHJF6339MZ157006, số máy JF94E0391809, qua xác minh là của bà Nguyễn Thị Thu T1 (mẹ ruột của anh H đứng tên chủ sở hữu). Ngày 28/4/2024, bà T1 cho anh H mượn xe đi uống cà phê, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả lại xe cho bà T1.
  • 01 nón kết xanh đen (trang phục Vũ mặc gây án)
  • 01 đôi giày màu trắng (trang phục Vũ mặc gây án)
  • 01 áo bảo vệ tay ngắn màu xanh (trang phục Vũ mặc gây án)
  • 01 quần tây dài màu đen (trang phục Vũ mặc gây án)
  • 01 điện thoại di động Samsung màu đen, đã qua sử dụng

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã nhập kho vật chứng và chuyển cùng hồ sơ vụ án để xử lý theo quy định.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 75/CTr-VKS ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Trần Hoàng V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra, bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo lần đầu phạm tội chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo:

Từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Đề nghị xử lý vật chứng vụ án:

  • Đối với: 01 nón kết xanh đen, 01 đôi giày màu trắng, 01 áo bảo vệ tay ngắn màu xanh, 01 quần tây dài màu đen là trang phục Vũ mặc gây án là tài sản riêng của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo không có nhu cầu được nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu đen đã qua sử dụng, là điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc với đối tượng “Tuấn A” trên mạng để làm giả bộ hồ sơ xin việc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • Lưu theo hồ sơ vụ án 01 xác nhận hạnh kiểm ngày 03/01/2024 có hình dấu của Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương, 01 đơn xin việc, 01 sơ yếu lý lịch và 01 căn cước công dân có hình dấu của U phường Chánh Phú H1, T.X B, tỉnh Bình Dương.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử không xét lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp ., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Hoàng V tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi do căn cước công dân của Trần Hoàng V bị thất lạc, V không thể đi xin việc làm được nên V nảy sinh ý định là gắn hình của mình vào thẻ căn cước công dân của Đặng Văn M (do Vũ lượm được) và ép nhựa lại để sử dụng nhưng sợ bị phát hiện nên k hoảng tháng 01/2024, V lên mạng "Facebook" tìm kiếm người làm bộ hồ sơ xin việc. Lúc này V liên hệ được một người sử dụng Z có nickname "Tuấn A" (không rõ lai lịch) để làm giả bộ hô sơ xin việc theo thông tin của “Đặng Văn M" với giá 450.000 đồng. Sau khi làm xong V chuyển số tiền 300.000 đồng qua ví Momo cho "Tuấn A", còn 150.000 đồng thanh toán cho người shipper tại nhà trọ của V tại địa chỉ: Số A đường P, xã V, huyện B, Thành phố H. Sau khi có hồ sơ xin việc, ngày 23/04/2024, V xin vào làm Công ty bảo vệ vệ sĩ "An Việt" và được điều phối đến quán C, địa chỉ: Số A đường L, Phường A, quận G làm bảo vệ giữ xe. Ngày 28/04/2024 anh Nguyễn Minh H điều khiển xe môtô Airblade biển số 59G2-981.85 đến quán C để uống cà phê, khi anh H lấy xe ra về thì Vũ mượn xe đi mua cơm. Do không có tiền tiêu xài, V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh H nên đã chạy về nhà trọ tại địa chỉ: Số A đường P, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để cất giấu. Việc truy tố, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Hoàng Vũ P các tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự và “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trị giá 30.266.667 đồng là tình tiết định khung được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là tình tiết định khung được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo phạm 02 tội nên cần phải có mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục và phòng chống tội phạm nói chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng điểm i, điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 341 và khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5]. Bị cáo phạm nhiều tội nên tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Về vật chứng của vụ án:

  • Tịch thu và tiêu hủy: 01 nón kết xanh đen, 01 đôi giày màu trắng, 01 áo bảo vệ tay ngắn màu xanh, 01 quần tây dài màu đen do bị cáo từ chối nhận lại
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung màu đen đã qua sử dụng.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 113/PNK ngày 17/5/2024 của Công an quận G).

  • Đối với 01 xác nhận hạnh kiểm ngày 03/01/2024 có hình dấu của Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương, 01 đơn xin việc, 01 sơ yếu lý lịch và 01 căn cước công dân có hình dấu của U phường Chánh Phú H1, T.X B, tỉnh Bình Dương là giả. Xét thấy, là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án (đã kèm theo hồ sơ vụ án).

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện quá trình điều tra bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

[8]. Về các vấn đề khác:

Hành vi nhận làm bộ hồ sơ xin việc giả của đối tượng "Tuấn A" có dấu hiệu của tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, qua xác minh chưa đủ căn cứ khẳng định được chủ tài khoản Ngân hàng M2 số 14086018265999 nhận chuyển tiền từ Trần Hoàng Vũ có tên Phạm Hoàng M1 là “Tuấn A” nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” của đối tượng Tuấn A, khi nào xác định được đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Hành vi dùng hình ảnh của mình gắn lên căn cước công dân của người khác nhưng chưa sử dụng vào mục đích phạm tội của Trần Hoàng V và quá trình điều tra không thu thập được căn cước công dân nên chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội “Sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, tài liệu của Cơ quan tổ chức” quy định tại Điều 340 Bộ luật hình sự.

[9]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[11] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng V phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175, khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng V 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 09(chín) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 2 tội danh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 07/5/2024.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;và khoản 1, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

  • Tịch thu và tiêu hủy: 01 nón kết xanh đen, 01 đôi giày màu trắng, 01 áo bảo vệ tay ngắn màu xanh, 01 quần tây dài màu đen.
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung màu đen đã qua sử dụng.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 113/PNK ngày 17/5/2024 của Công an quận G).

Tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án 01 xác nhận hạnh kiểm ngày 03/01/2024 có hình dấu của Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương, 01 đơn xin việc, 01 sơ yếu lý lịch và 01 căn cước công dân có hình dấu của U phường Chánh Phú H1, T.X B, tỉnh Bình Dương (đã kèm theo hồ sơ vụ án).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Gò Vấp;
  • - Trại giam nơi giam bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án quận Gò Vấp;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Hoàng Vũ 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 09(chín) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 2 tội danh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 07/5/2024. - Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;và khoản 1, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; - Tịch thu và tiêu hủy: 01 nón kết xanh đen, 01 đôi giày màu trắng, 01 áo bảo vệ tay ngắn màu xanh, 01 quần tây dài màu đen. - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung màu đen đã qua sử dụng. (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 113/PNK ngày 17/5/2024 của Công an quận Gò Vấp). - Tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án 01 xác nhận hạnh kiểm ngày 03/01/2024 có hình dấu của Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, 01 đơn xin việc, 01 sơ yếu lý lịch và 01 căn cước công dân có hình dấu của U.B.N.D phường Chánh Phú Hòa, T.X Bến Cát, tỉnh Bình Dương (đã kèm theo hồ sơ vụ án). Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết. Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger