Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/DS-ST

Ngày: 21-3-2025

V/v: T/c QSD đất (ranh đất) và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và bồi thường thiệt hại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Khel.
  2. Ông Hà Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm Sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2024/TLST-DS ngày 05/6/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất), yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và bồi thường thiệt hại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh D, sinh năm 1977

Địa chỉ: Số B, Kênh X nay là đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1965

Địa chỉ: Số B, Kênh X nay là đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: số I đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nhâm Mỹ H; sinh năm: 1974
  2. Địa chỉ: Số B, Kênh X nay là đường P, Khóm D Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Bà Kim Thị P; sinh năm: 1965
  4. Địa chỉ: Số 1 đường T, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

  5. Ông Bùi Đức A, sinh năm: 1982;
  6. Địa chỉ: Số B, đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

  7. Ông Trần Thanh A1, sinh năm: 1992;
  8. Cháu Trần Thanh Đ, sinh ngày 13/12/2014
  9. Cháu Trần Thanh K, sinh ngày: 08/11/2017

Cùng địa chỉ: Số B đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người giám hộ đương nhiên của cháu Đ và cháu K: ông Trần Thanh A1 – là Cha ruột.

Người làm chứng:

  1. Bà Lý Thị T1, sinh năm: 1958; địa chỉ: Số B đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Bà Lý Thị V, sinh năm: 1955; địa chỉ: Số B đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Bà Phùng Thị Kim C, sinh năm: 1965; địa chỉ: Số B Kênh X nay là đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Ông Cao Anh K1, địa chỉ: Số A đường P, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 15/5/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Minh D trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 59 tờ bản đồ số 42 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng, đất số X394056 do Ủy ban nhân dân thị xã N là thành phố S cấp ngày 26/03/2003 cho hộ ông Nguyễn Minh D là do ông D nhận chuyển nhượng lại từ bà Nguyễn Thị C1 vào năm 2002, việc chuyển nhượng có làm hợp đồng, với diện tích chuyển nhượng chiều ngang trước và sau là 7,0m; chiều dài cạnh giáp với đất ông Nguyễn Văn B (nay là hẻm bê tông) là 26,3m và cạnh phía giáp đất bà Nguyễn Thị C1 là 23,7m, diện tích là 171,6 m². Khi chuyển nhượng là đất trống, trên đất không có cây trồng hay vật kiến trúc gì. Khi đó, các hộ có đất giáp ranh là bà Nguyễn Thị C1, ông Nguyễn Văn B đều có ký tên để xác định ranh cho ông D.

Cũng trong năm 2003, ông D xây dựng nhà vách tường gạch, mái tole, nền gạch men với diện tích ngang 7,0m; dài 17m. Khi xây dựng nhà, ranh đất phía sau ông D xây dựng hết đất và chừa lại khoảng đất trống phía trước nhà để làm sân và quản lý sử dụng liên tục từ năm 2003 cho đến nay. Đến năm 2005, ông Nguyễn Thanh T (con của ông B) sửa nhà và xây dựng nhà vệ sinh lấn qua phần đất của ông D với chiều dài 3,0m và chiều ngang 7,0m (diện tích 21m²). Tuy nhiên, do vào thời điểm đó chưa mở lộ, ông D phải đi nhờ qua đất ông T để ra đường công cộng nên không có yêu cầu địa phương giải quyết mà để cho ông T xây dựng.

Vào năm 2006, bà Nguyễn Thị C1 (chủ đất gốc) cho rằng khi mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C1 tách thửa thì ông D đã tách nhiều hơn diện tích đất mà bà C1 đã chuyển nhượng cho ông nhưng phía bà C1 không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh. Tuy nhiên, do gia đình bà C1 không còn lối đi ra đường công cộng nữa nên ông D đồng ý cho bà C1 và ông Lý Quốc T2 (con ruột của bà C1) đi nhờ qua phần đất này cho đến chết. Sau đó, các bên không có tranh chấp gì cho đến nay.

Theo ông D mặc dù trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện là đất cấp cho hộ nhưng đây là tài sản chung của ông và vợ là bà Nhâm Mỹ H, chứ không phải tài sản của hộ gia đình.

Đến ngày 27/10/2023 Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất là 24,5 m² (loại đất CLN) để làm đường nên diện tích đất còn lại của thửa 59 là 147,1 m². Chiều dài thửa đất phía tiếp giáp với bà Nguyễn Thị C1 không thay đổi. Khi thu hồi đất, cơ quan chuyên môn có đo đạc thực tế diện tích đất thu hồi và ông D có ký tên xác nhận.

Cũng trong năm 2023, do có nhu cầu sửa chữa lại nhà và thi công trán mặt sân trước nhà cho sạch sẽ nên ông D yêu cầu ông T trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 21m², nhưng ông T không đồng ý. Qua đo đạc thực tế, trong diện tích đất 21m² này có 7,29m² nhà nước đã thu hồi và đã làm đường nên ông D không yêu cầu. Do đó, ông D thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

  1. Buộc ông Nguyễn Thanh T trả lại cho ông D phần diện tích đất đã lấn chiếm 13,21m², có số đo tứ cận như sau:
    • - Hướng đông giáp thửa đất 71 có số đo là 3,0m
    • - Hướng tây giáp với H1 bê tông có số đo là 3,0m
    • - Hướng nam giáp thửa đất 71 có số đo là 4,48m
    • - Hướng bắc giáp phần đất còn lại của thửa 59 có số đo là 4,51m.
  2. Buộc ông Nguyễn Thanh T khôi phục lại hiện trạng ban đầu của phần đất đã lấn chiếm, bao gồm ông T phải tháo dỡ nhà vệ sinh, hệ thống ống nước sinh hoạt và hầm cống cùng đường ống nước thải, trả lại mặt bằng, khắc phục không còn tình trạng mùi hôi thối, ô nhiễm tồn tại đã lâu.
  3. Yêu cầu ông Nguyễn Thanh T bồi thường thỏa đáng số tiền sử dụng đất đã lấn chiếm của ông D những năm qua, mỗi tháng 100.000 đồng với thời gian 19 năm (tính từ năm 2005 đến nay là năm 2024) thành số tiền là 22.800.000 đồng. Đối với yêu cầu này, ông D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh theo yêu cầu của Toà án. Hiện nay, ông T đang cho thuê căn nhà của ông T nên ông T phải có trách nhiệm trích ra một phần để trả cho ông D trong suốt thời gian ông T đã sử dụng đất lấn sang phần đất của ông D.

Đối với kết quả đo đạc thực thế thửa đất, kết quả định giá mà Toà án đã thông báo ông D hoàn toàn thống nhất.

Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Thanh T:

Nguồn gốc thửa đất số 71 tờ bản đồ số 42 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng, đất số AD 268746 do Ủy ban nhân dân thị xã N là thành phố S cấp ngày 28/12/2005 cho hộ ông Nguyễn Văn B (cha ruột ông T) là do nhận chuyển nhượng từ năm 1975 và sử dụng ổn định cho đến nay.

Đến tháng 11/2008, ông B đã tặng cho hết diện tích đất là 1.497,7 m² cho ông T và vợ là bà Kim Thị P. Tháng 6/2010, ông T và vợ đã chuyển nhượng ông Nguyễn Văn H2 diện tích là 537 m², loại đất CLN; còn lại diện tích là 960,4 m².

Đến ngày 06/10/2021 Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất là 173,9 m² để làm đường, nên diện tích đất còn lại của ông T là 786,5 m².

Theo ông T, tại vị trí hướng bắc thửa đất số 71 của gia đình ông, tiếp giáp với thửa đất số 441 của bà Nguyễn Thị C1. Vào năm 2000, bà C1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L phần đất chiều ngang 7,0m; chiều dài 17m, diện tích 119m² (thuộc một phần thửa đất số 441). Đến năm 2003, ông L mới chuyển nhượng lại cho ông D, cũng trong năm 2003, ông D có mượn bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C1 để tách thửa. Tuy nhiên, khi tách thửa, ông D lại tách phần đất chiều ngang 7,0m; chiều dài 24m, diện tích là 174,6 m² (trong đó có phần đất của bà C1 là khoảng giữa trước mặt nhà ông D hiện giờ và phía sau nhà ông T) ngang 7m, dài 7m phần đất đang tranh chấp. Sau khi phát hiện sự việc, bà C1 đã gửi đơn yêu cầu địa phương hoà giải, tại biên bản hoà giải ngày 19/7/2006, tại Ủy ban nhân dân Phường H3, thị xã nay là thành phố S đối với diện tích đất mà ông D đã cắt dư ra. Tại buổi hoà giải này, ông D, ông L, bà C1 thống nhất sử dụng phần đất chiều ngang 7,0; chiều dài 7m để sử dụng lối đi chung không ai được trồng cây xây dựng, sang bán bất cứ hình thức nào, giữ nguyên hiện trạng cũ. Do đó, việc ông D cho rằng, thửa đất số 59 của ông có nguồn gốc của bà C1 là đúng. Khi ông D làm hồ sơ để xin cấp giấy, cha của ông là ông B có ký giáp ranh cho ông D hay không thì ông không rõ.

Vào tháng 8/1997 vợ chồng ông T đã cất nhà ở trên đất (nhà cột đúc, nền xi măng, mái lá, vách lá) và xây dựng nhà vệ sinh, bồn chứa nước cũng như hệ thống xả nước thải như hiện trạng hiện nay và chưa có sự xuất hiện của ông D tại phần đất đã nêu. Đến năm 1998 thì vợ chồng ông T mới xây dựng nhà kiên cố, khi này phần nhà vệ sinh vợ chồng ông T không có sửa chữa, hay xây dựng gì thêm. Do đó, việc ông D cho rằng, ông đã xây dựng nhà vệ sinh năm 2005 qua phần đất ông D là hoàn toàn vô lý. Từ trước đến nay, ranh đất giữa bà C1 và gia đình ông T luôn cố định, là vách tường nhà của ông, không có thay đổi và các bên từ trước đến nay cũng không có tranh chấp gì về ranh đất.

Đến giữa năm 2023, thì ông D tranh chấp cho rằng ông T xây dựng nhà vệ sinh lấn qua đất của ông D. Theo ông T, ông sử dụng đúng ranh đất, vị trí đất mà ông được cấp nên ông T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D.

Đối với kết quả đo đạc thực tế thửa đất và kết quả định giá mà Toà án đã thông báo ông T hoàn toàn thống nhất. Trước đây, căn nhà và phần đất tranh chấp, ông T cho ông Bùi Đức A thuê. Sau đó, ông A cho ông Trần Thanh A1 thuê lại. Sau khi Toà án thẩm định thì ông T và ông A đã chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Hiện ông T là người trực tiếp cho ông Trần Thanh A1 thuê. Hiện nhà và phần đất tranh chấp do ông A1 và 02 con là Trần Thanh Đ và Trần Thanh K trực tiếp quản lý, sử dụng.

Ý kiến của bà Nhâm M H: Bà H là vợ của ông D, bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông D, không trình bày bổ sung.

Ý kiến của bà Kim Thị P: Bà P là vợ của ông T, bà thống nhất với lời trình bày và ý kiến ông T, không trình bày bổ sung.

Đối với ông Bùi Đức A, ông Trần Thanh A1, cháu Trần Thanh Đ và cháu Trần Thanh K: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả đo đạc, thông báo giá và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông A, ông A1, cháu Đ và cháu K không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1]. Nguyên đơn ông D khởi kiện yêu cầu bị đơn ông T trả lại diện tích đất lấn chiếm là 13,21m², đất tọa lạc tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, yêu cầu ông T tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất và bồi thường thiệt hại số tiền là 22.800.000 đồng. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật để giải quyết vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và bồi thường thiệt hại” theo quy định tại khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Đức A, ông Trần Thanh A1, cháu Trần Thanh Đ và cháu Trần Thanh K và những người làm chứng là bà Lý Thị T1, bà Lý Thị V, bà Phùng Thị Kim C, ông Cao Anh K1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do; Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông D thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, theo đó, ông D chỉ yêu cầu ông T trả lại cho ông diện tích đất lấn chiếm là 13,21m². Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu quy định tại Khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Về nội dung vụ án:

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, các đương sự thống nhất nguồn gốc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 42 mà ông D, bà H đang quản lý, sử dụng là nhận chuyển nhượng lại từ bà Nguyễn Thị C1 vào năm 2003 và nguồn gốc thửa đất số 71, tờ bản đồ 42 mà ông T, bà P đang quản lý sử dụng là của ông Nguyễn Văn B (cha ruột ông T) sử dụng ổn định từ năm 1975 sau đó, tặng cho lại ông T, bà P. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tình tiết không phải chứng minh.

[5] Về kết quả đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S xác nhận ngày 10/10/2024 thì thửa đất số 59 của nguyên đơn có diện tích 150,6m²; một phần thửa đất số 71 của bị đơn có diện tích 145,7m²; phần đất tranh chấp có diện tích 13,21m² và có tứ cận: Hướng đông giáp thửa đất 71 có số đo 3,0m; hướng tây giáp hẻm bê tông có số đo 3,0m; hướng nam giáp thửa 71 có số đo 4,48m; hướng bắc giáp thửa đất 59 và một phần thửa đất bà Nguyễn Thị Kim C1 có số đo: 3,59m + 0,93m và đơn giá đất 13,21m² (loại đất CLN) x đơn giá 900.000 đồng/m² thành tiền 11.889.000 đồng; nhà vệ sinh có giá là 5.174.000 đồng, ống nhựa P1 có giá 130.170 đồng. Các đương sự đều thống nhất với kết quả đo đạc và kết quả định giá như trên nên Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả trên làm cơ sở giải quyết vụ án.

[6] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng, đất số X394056 do Ủy ban nhân dân thị xã N là thành phố S cấp ngày 26/03/2003, chủ sử dụng đất: hộ ông Nguyễn Minh D, thì thửa đất của nguyên đơn được cấp có chiều ngang trước và ngang sau là 7,0m, chiều dài cạnh giáp với phần đất còn lại của bà Nguyễn Thị C1 (đã chuyển nhượng cho ông Lý Quốc T2) là 23,7m; chiều dài cạnh giáp với thửa đất 71 của ông Nguyễn Văn B (nay là hẻm bê tông) là 26,63m; diện tích 171,6m². Đến ngày 27/10/2023 Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất là 24,5 m² (loại đất CLN) để làm hẻm bê tông nên diện tích đất còn lại của thửa 59 là 147,1 m². Theo đo đạc thực tế thì hiện nay phần đất mà ông D đang quản lý, sử dụng có chiều ngang phía trước là 3,59m, chiều ngang phía sau 7,0m; chiều dài cạnh giáp với hẻm bê tông là 7,72m + 9.23m + 8,15m; chiều dài cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị C1 (nay là Lý Quốc T2) là 23,7m; diện tích 150,6m². So với diện tích đất mà ông, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lớn hơn 2,9m² và chiều dài cạnh giáp đất bà Phùng Thị Kim C là 23,7m đúng theo chiều dài thửa đất đã được cấp giấy.

[7] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng, đất số AD 268746 do Ủy ban nhân dân thị xã N là thành phố S cấp ngày 28/12/2005, chỉnh lý biến động tặng cho ông T và bà P vào tháng 6/2010. Ngày 06/10/2021 Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất là 173,9 m² (loại đất CLN) nên diện tích đất còn lại là 786,5 m²; Do phần diện tích đất của ông T được cấp giấy có diện tích lớn và sau khi nhà nước thu hồi một phần để mở hẻm bê tông (Hẻm B đường P) thì diện tích đất mà ông T, bà P sử dụng bị chia cắt làm 02 phần. Do ông D chỉ tranh chấp phần diện tích đất giáp ranh với thửa đất số 59 của ông T và phần diện tích còn lại ông T không xác định được ranh nên không đo đạc được mà chỉ tiến hanh đo đạc thực tế một phần thửa đất số 71 là 145,7m².

[8]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông T trả diện tích đất lấn chiếm là 13,21m², thấy rằng:

[8.1] Tại Công văn số 674/VPĐK-HC ngày 11/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S thì Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S xác định không định vị thửa đất mà chỉ đo đạc thực tế. Do đó Tòa án căn cứ vào sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ làm cơ sở giải quyết vụ án.

[8.2] Qua đo đạc thực tế, phần đất ông D, bà H đang quản lý, sử dụng lớn hơn so với diện tích đất mà ông, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2,9m²; và tại cạnh chiều dài phía giáp với thửa đất của bà Nguyễn Thị C1 (đã chuyển nhượng cho ông Lý Quốc T2) là 23,7m đúng với chiều dài thửa đất mà ông D được cấp giấy; Đối với chiều cạnh giáp hẻm bê tông khi thu hồi nhà nước đã đo đạc hiện trạng và ông cũng thống nhất, không có ý kiến. Ông D cho rằng vào năm 2005 ông T đã xây dựng 01 phần nhà vệ sinh và sử dụng lấn sang phần đất của ông với chiều ngang phía giáp phần đất còn lại của thửa 59 có số đo là 4,51m; phía giáp thửa đất 71 có số đo là 4,48m; chiều dài 3,0m; diện tích 13,21m² nhưng phía ông T không thừa nhận có sử dụng lấn sang đất của ông D và ông D cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông. Đồng thời, theo lời khai của người làm chứng là bà Phùng Thị Kim C, bà Lý Thị T1 và bà Lý Thị V thì thửa đất số 59 của ông D được tách ra từ thửa đất 441 của bà Nguyễn Thị C1. Tại vị trí tiếp giáp giữa thửa đất 59 của ông D, phần còn lại của thửa 441 của bà C1 và thửa đất của ông B thì ranh đất là một đường thẳng, không bị gấp khúc và ổn định từ năm 1975 cho đến nay. Qua đo đạc thực tế hiện nay, ranh đất giữa ông Lý Quốc T2, ông Nguyễn Văn D1 và Nguyễn Thanh T (con ông B) là đường thẳng. Do đó, ông D1 yêu cầu ông T trả lại cho ông phần đất lấn chiếm diện tích 13,21m² là không có căn cứ, không được Toà án chấp nhận.

[8.3] Do yêu cầu của ông D1 về việc buộc ông T trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 13,21m², không được chấp nhận nên ông D1 yêu cầu ông T khôi phục lại hiện trạng ban đầu của phần đất đã lấn chiếm, bao gồm ông T phải tháo dỡ nhà vệ sinh, hệ thống ống nước sinh hoạt và hầm cống cùng đường ống nước thải, trả lại mặt bằng, khắc phục không còn tình trạng mùi hôi thối, ô nhiễm tồn tại đã lâu và yêu cầu ông T bồi thường thỏa đáng số tiền sử dụng đất đã lấn chiếm của ông D1 những năm qua, mỗi tháng 100.000 đồng với số tiền là 22.800.000 đồng, là không có căn cứ, không được chấp nhận.

[9]. Như đã phân tích trên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

[10]. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá: ông Nguyễn Minh D phải chịu số tiền 8.236.335 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng xong.

[11]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án số tiền 1.440.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 229, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Điều 166, 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Điều 26, Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024.
  • Khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh D về việc:
    1. Buộc ông Nguyễn Thanh T trả lại cho ông Nguyễn Minh D phần diện tích đất đã lấn chiếm 13,21m², có số đo tứ cận như sau:
      • - Hướng đông giáp thửa đất 71 có số đo là 3,0m
      • - Hướng tây giáp với H1 bê tông có số đo là 3,0m
      • - Hướng nam giáp thửa đất 71 có số đo là 4,48m
      • - Hướng bắc giáp phần đất còn lại của thửa 59 có số đo là 4,51m.
    2. Buộc ông Nguyễn Thanh T khôi phục lại hiện trạng ban đầu của phần đất đã lấn chiếm, bao gồm ông T phải tháo dỡ nhà vệ sinh, hệ thống ống nước sinh hoạt và hầm cống cùng đường ống nước thải, trả lại mặt bằng, khắc phục không còn tình trạng mùi hôi thối, ô nhiễm tồn tại đã lâu.
    3. Yêu cầu ông Nguyễn Thanh T bồi thường thỏa đáng số tiền sử dụng đất đã lấn chiếm của ông D những năm qua, mỗi tháng 100.000 đồng với thời gian 19 năm (tính từ năm 2005 đến nay là năm 2024) thành số tiền là 22.800.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.440.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông D đã nộp là 870.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001755 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng. Ông Nguyễn Minh D phải nộp thêm số tiền 570.000 đồng.
  3. Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá: ông Nguyễn Minh D phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá số tiền 8.236.335 đồng. Ông D đã nộp tạm ứng xong.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và bồi thường thiệt hại

  • Số bản án: 50/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất và bồi thường thiệt hại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger