|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2025/KDTM-PT Ngày: 20-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Các Thẩm phán: Ông Đào Quốc Thịnh
Bà Mai Thị Thanh Tú
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20-3-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 263/2024/TLPT-KDTM ngày 11-12-2024 về tranh chấp “hợp đồng mua bán hàng hoá”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 4446/2024/KDTM-ST ngày 19-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2025/QĐ-PT ngày 05-02-2025, Quyết định hoãn phiên toà số 1213/2025/QĐ-PT ngày 24-02-2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T1
Trụ sở: xóm C, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1974; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 31-5-2024) (có mặt)
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1
Trụ sở: số A đường B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Bị đơn: bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1992; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 05-02-2025) (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Vĩnh M
Địa chỉ: số T khu C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minhvắng mặt)
Người kháng cáo: Công ty Cổ phần Đ1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 09-9-2023 của Nguyên đơn Công ty Cổ phần T1 và trình bày của ông Nguyễn Văn K là người đại diện hợp pháp: Công ty Cổ phần T1 (sau đây gọi tắt Công ty T1) và Công ty Cổ phần Đ1 (sau đây gọi tắt Công ty Đ1) có ký kết với nhau Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023 (gọi tắt là Hợp đồng số 01) về việc cung cấp thép các loại, theo đó Công ty T1 đã giao đầy đủ hàng hóa, đúng chất lượng và xuất các hoá đơn giá trị gia tăng như sau:
- Hoá đơn GTGT số 00001581 ngày 24-2-2023, giá trị hàng hoá: 556.923.620 đồng.
- Hoá đơn GTGT số 00001753 ngày 01-3-2023, giá trị hàng hoá: 602.610.195 đồng.
- Hoá đơn GTGT số 00002058 ngày 09-3-2023, giá trị hàng hoá: 393.490.130 đồng.
- Hoá đơn GTGT số 00002139 ngày 11-3-2023, giá trị hàng hoá: 651.967.030 đồng.
- Hoá đơn GTGT số 00002548 ngày 21-3-2023, giá trị hàng hoá: 539.953.755 đồng.
- Hoá đơn GTGT số 00003006 ngày 31-3-2023, giá trị hàng hoá: 1.171.945.335 đồng.
- Hoá đơn GTGT số 00003337 ngày 10-4-2023, giá trị hàng hoá: 556.154.775 đồng.
Tổng giá trị tiền hàng Công ty Đ1 đã mua của Công ty T1 là 4.473.044.840 đồng.
Ngày 31-3-2023, hai bên công ty đã tiến hành đối chiếu công nợ xác định số tiền hàng đã mua và thanh toán có ký đóng dấu của hai bên công ty.
Từ ngày mua bán đến nay Công ty Đ1 đã thanh toán 09 lần, cụ thể:
- Ngày 21-02-2023 trả UNC số tiền: 290.000.000 đồng;
- Ngày 27-02-2023 trả UNC số tiền: 290.000.000 đồng;
- Ngày 07-3-2023 trả UNC số tiền: 300.000.000 đồng;
- Ngày 07-3-2023 trả UNC số tiền: 300.000.000 đồng;
- Ngày 20-3-2023 trả UNC số tiền: 170.000.000 đồng;
- Ngày 31-3-2023 trả UNC số tiền: 600.000.000 đồng;
- Ngày 07-4-2023 trả UNC số tiền: 300.000.000 đồng;
- Ngày 07-4-2023 trả UNC số tiền: 300.000.000 đồng;
- Ngày 07-4-2023 trả UNC số tiền: 400.000.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty Đ1 đã trả là 2.950.000.000 đồng, số tiền gốc còn nợ lại là 1.523.044.840 đồng.
Căn cứ thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023 và các báo giá kiêm xác nhận đơn hàng, thời hạn thanh toán: thanh toán trước 50%, 50% còn lại thanh toán trong vòng 45 ngày kể từ ngày giao nhận hàng có biên bản hoặc theo thoả thuận khác được hai bên xác nhận. Quá hạn thanh toán bên công ty Đ1 phải chịu lãi theo mức lãi suất 0,054%/ngày trên tổng số tiền quá hạn trong suốt thời gian quá hạn.
Căn cứ các quy định của pháp luật về thanh toán lãi chậm trả, Công ty Đ1 còn phải trả cho Công ty T1 nợ gốc 1.523.044.840 đồng, tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 09-9-2023 là 101.133.538 đồng, tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 09-9-2023 là 1.624.178.378 đồng. (quá trình mua bán, thanh toán và tính lãi được thể hiện tại bản “Biên bản đổi chiều nợ gốc và lãi chậm trả”)
Công ty T1 đã đôn đốc, nhắc nhở đòi nợ rất nhiều lần nhưng Công ty Đ1 không thanh toán, gây khó khăn, thiệt hại cho Nguyên đơn.
Mặt khác, căn cứ theo Điều 9 của Hợp đồng: “Đại diện theo pháp luật của bên mua và hoặc ông bà trực tiếp được ủy quyền ký hợp đồng này cam kết chịu trách nhiệm cá nhân bằng tiền và tài sản riêng trả nợ thay bên mua nếu bên mua mất khả năng hoặc không hợp tác trả nợ”. Vì vậy, Công ty T1 yêu cầu Công ty Đ1 và ông Trương Vĩnh M1 phải trả nợ gốc, lãi nói trên và chịu tiền lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 09-9-2023 cho tới khi trả dứt nợ.
Bị đơn Công ty Đ1, đại diện theo pháp luật ông Trương Vĩnh M, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Vĩnh M đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng văng mặt và không có lời khai trong suốt quá trình tố tụng tại Toà án.
Tại phiên toà, Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt và có bản khai ngày 19-9-2024 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu Công ty Đ1 phải trả nợ gốc 1.523.044.840 đồng và tiền lãi tính đến ngày 19-9-2024 là 410.372.562 đồng, tổng cộng là 1.933.417.402 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 20-9-2024 cho tới khi trả dứt nợ.
Căn cứ theo điều 9 của Hợp đồng, yêu cầu ông Trương Vĩnh M đại diện theo pháp luật của Công ty Đ1 với tư cách cá nhân có trách nhiệm trả nợ thay cho Công ty Đ1 trong trường hợp Công ty Đ1 không thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán cho Công ty T1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 4446/2024/KDTM-ST ngày 19-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Công ty Cổ phần T1: Buộc Bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 phải trả cho Công ty Cổ phần T1 số tiền gốc còn nợ 1.523.044.840 đồng và tiền lãi 410.372.562 đồng, tổng cộng 1.933.417.402 (một tỷ chín trăm ba mươi ba triệu bốn trăm mười bảy nghìn bốn trăm lẻ hai) đồng
- Buộc ông Trương Vĩnh M1 có trách nhiệm trả nợ thay cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền nêu trên trong trường hợp Công ty Cổ phần Đ1 không thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán cho Công ty Cổ phần T1.
Kể từ ngày 20-9-2024 nếu Công ty Cổ phần Đ1 chưa trả tiền, thì Công ty Cổ phần Đ1 phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất quá hạn hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023 với mức lãi suất 0.054%/ngày.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án của đương sự theo luật định.
Ngày 18-10-2024, Công ty Cổ phần Đ1 nộp đơn kháng cáo, đề nghị được thoả thuận trả nợ gốc chia đều trong thời hạn 6 tháng; xem xét miễn, giảm lãi và không đồng ý việc ông Trương Vĩnh M có trách nhiệm trả nợ thay Công ty Cổ phần Đ1.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, do Bị đơn đã thanh toán nợ gốc 400.000.000 đồng, cụ thể ngày 23-10-2024 trả 300.000.000 đồng; ngày 17-12-2024 trả 100.000.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc còn lại là 1.123.044.840 đồng và tiền lãi cấp sơ thẩm đã tính là 410.372.562 đồng. Nguyên đơn đồng ý tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm 20-9-2024 trên nợ gốc 1.123.044.840 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của Bị đơn; căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án kinh doanh thương mại số 4446/2024/KDTM-ST ngày 19-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn trả cho Nguyên đơn nợ gốc còn lại là 1.123.044.840 đồng và tiền lãi cấp sơ thẩm đã tính là 410.372.562 đồng, trả một lần ngày khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về nội dung kháng cáo khác của Bị đơn liên quan đến đề nghị Nguyên đơn gia hạn thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, trách nhiệm cá nhân ông Trương Vĩnh M, khoản tiền 20.000.000 đồng Bị đơn chuyển cho cá nhân ông Đào Duy Đ không có cơ sở chấp nhận
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên toà, các bên đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, Bị đơn không rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc, lãi theo Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023 về việc mua bán hàng hoá; đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; Bị đơn có trụ sở tại thành phố T; Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá và thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại cấp sơ thẩm, Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án tống đạt triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt và không có văn bản ý kiến liên quan vụ kiện. Do đó, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ngày 08-10-2024, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức tống đạt niêm yết Bản án sơ thẩm cho Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ngày 18-10-2024, Bị đơn nộp Đơn kháng cáo đến Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức là còn trong thời hạn luật định và hợp lệ, do đó Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét Bị đơn kháng cáo đề nghị được thoả thuận trả nợ gốc chia đều trong thời hạn 6 tháng, xem xét miễn, giảm lãi và không đồng ý việc ông Trương Vĩnh M có trách nhiệm trả nợ thay Công ty Cổ phần Đ1; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và trình bày của các đương sự có đủ cơ sở xác định: Nguyên đơn và Bị đơn có ký kết Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023, theo đó Nguyên đơn cung cấp thép các loại cho Bị đơn, tổng cộng giá trị tiền hàng là 4.473.044.840 đồng. Căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31-3-2023 và các uỷ nhiệm chi đến ngày 07-4-2023 và xác nhận của Bị đơn, Bị đơn đã trả cho Nguyên đơn 2.950.000.000 đồng, số tiền gốc còn nợ lại là 1.523.044.840 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn phải thanh toán nợ gốc còn lại 1.523.044.840 đồng là phù hợp với thoả thuận tại Hợp đồng mua bán và Điều 50 của Luật Thương mại. Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyên đơn xác nhận Bị đơn có thanh toán nợ gốc 400.000.000 đồng, cụ thể ngày 23-10-2024 trả 300.000.000 đồng; ngày 17-12-2024 trả 100.000.000 đồng. Do đó, tại cấp phúc thẩm Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc còn lại 1.123.044.840 đồng. Bị đơn đề nghị được trả nợ gốc chia đều trong thời hạn 6 tháng; xét thấy, khoản nợ kéo dài từ tháng 4-2023 đến nay Bị đơn không thanh toán đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Nguyên đơn, phía Nguyên đơn không đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận đề nghị của Bị đơn.
[5] Tại đơn kháng cáo, Công ty Đ1 cung cấp chứng từ chuyển khoản ngân hàng ngày 18-3-2023 giữa cá nhân bà Biền Thị L chuyển tiền vào tài khoản cá nhân ông Đào Duy Đ (nhân viên giao hàng của Công ty T1) với nội dung Công ty Đ1 chuyển cọc mua thép số tiền 20.000.000 đồng, nhưng không thể hiện chuyển thanh toán cho hợp đồng nào. Quá trình đối chiếu công nợ giữa hai Công ty cũng không đề cập đến số tiền này. Tại phiên toà, Công ty T1 không thừa nhận khoản tiền 20.000.000 đồng. Do đó không có cơ sở chấp nhận ý kiến của Bị đơn.
[6] Về tiền lãi chậm thanh toán: Căn cứ Điều 4 của Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023, các bên thoả thuận: “thanh toán trước 50%, 50% còn lại thanh toán trong vòng 45 ngày kể từ ngày giao nhận hàng có biên bản hoặc theo thoả thuận bằng văn bản khác được hai bên xác nhận. Quá hạn thanh toán bên A phải chịu lãi theo lãi suất 0,054%/ngày trên tổng số tiền quá hạn trong suốt thời gian quá hạn...”. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả lãi chậm thanh toán là 410.372.562 đồng theo mức lãi suất 1,054% trên nợ gốc 1.523.044.840 đồng, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19-9-2024 là phù hợp với thoả thuận tại hợp đồng và quy định tại khoản 1 Điều 306 Luật Thương mại 2005, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Bị đơn đề nghị xem xét miễn giảm lãi, phía Nguyên đơn không đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận đề nghị của Bị đơn.
[7] Về tiền lãi tiếp tục phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm 19-9-2024, đại diện Nguyên đơn đồng ý bắt đầu tính tiền lãi chậm trả từ ngày 20-9-2024 trên dư nợ gốc còn lại là 1.123.044.840 đồng; xét thấy yêu cầu của Nguyên đơn là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm của người bảo lãnh: Tại Điều 9 của Hợp đồng các bên thoả thuận, đại diện theo pháp luật của bên mua và/ hoặc ông bà trực tiếp được ủy quyền ký hợp đồng này cam kết chịu trách nhiệm cá nhân bằng tiền và tài sản riêng trả nợ thay bên mua nếu bên mua mất khả năng hoặc không hợp tác trả nợ. Xét thấy, thỏa thuận các bên đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật. Dó đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn trong trường hợp Bị đơn mất khả năng hoặc không hợp tác trả nợ cho Nguyên đơn, thì ông Trương Vĩnh M, người đại diện theo pháp luật của Bị đơn có trách nhiệm trả nợ thay cho Bị đơn là có căn cứ.
[9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của Bị đơn về nợ gốc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn là 1.123.044.840 đồng; không chấp nhận các nội dung kháng cáo còn lại.
[10] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[11] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ1. Sửa một phần Bản án số 4446/2024/KDTM-ST ngày 19-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 24, 25, 50, 306, 319 của Luật Thương mại 2005, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án; Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Công ty Cổ phần T1: Buộc Bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 phải trả cho Công ty Cổ phần T1 số tiền gốc còn nợ 1.123.044.840 (một tỷ, một trăm hai mươi ba triệu, không trăm bốn mươi bốn nghìn, tám trăm bốn mươi) đồng và tiền lãi 410.372.562 (bốn trăm mười triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm sáu mươi hai) đồng, tổng cộng 1.533.417.402 (một tỷ, năm trăm ba mươi ba triệu, bốn trăm mười bảy nghìn, bốn trăm lẻ hai) đồng.
- Trường hợp Công ty Cổ phần Đ1 không thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán cho Công ty Cổ phần T1 thì ông Trương Vĩnh M có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền nợ gốc, lãi theo thoả thuận tại Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023.
- Về án phí kinh doanh thương mại:
Kể từ ngày 20-9-2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần Đ1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/TMHN-TT ngày 21-02-2023 là 0.054%/ngày.
Án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu 58.002.522 (năm mươi tám triệu, không trăm lẻ hai nghìn, năm trăm hai mươi hai) đồng.
Hoàn lại cho Công ty Cổ phần T1 tiền tạm ứng án phí đã nộp 30.362.676 đồng (ba mươi triệu, ba trăm sáu mươi hai nghìn, sáu trăm bảy mươi sáu) đồng theo biên lai số 0005706 ngày 16-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần Đ1 không phải chịu; hoàn lại cho Công ty Cổ phần Đ1 tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng theo biên lai số 0044851 ngày 31-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./ .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Quỳnh Trâm |
Bản án số 50/2025/KDTM-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Số bản án: 50/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
