|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2025/HSST Ngày 20 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương
-
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Hà.
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- * Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- * Đại diện VKSND thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân A – Kiểm sát viên .
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2025/HSST, ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/HSST- QĐ ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
- * Họ tên: Lê Công Đ, sinh năm 2003.
- - Nơi thường trú: Phố B, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
- - Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12.
- - Bố: Lê Công H, sinh năm 1977.
- - Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1980.
- - Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út.
- - Tiền án, tiền sự: Không.
- - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 26/12/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
* Người bị hại:
- - Anh Trần Anh T, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
- Trú tại: số nhà B, đường N, phường H, thành phố B
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Cao Thiên N, sinh năm 2001 (Vắng mặt)
- Nơi thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Nơi ở tạm: Số nhà A, tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Trần Văn T1, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
1
- Trú tại: xóm G, xã K, huyện V, tỉnh Nam Định
-
* Người làm chứng:
- - Anh Hà Hồng B, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
- Trú tại: Số nhà B, đường L, phường H, thành phố B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Công Đ, sinh năm 2003, đăng ký hộ khẩu thường trú tại phố B, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang thuê trọ tại TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, Đ đi bộ từ nhà trọ ra đường gom cao tốc đón xe ô tô khách đi đến thành phố B mục đích xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, Đ đi bộ đến trước cửa số nhà B, đường L, phường H, thành phố B thì phát hiện thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 29L1-771.25 đang dựng ở vỉa hè trước nhà, chìa khóa xe vẫn đang cắm ở ổ khóa điện. Chiếc xe này là của anh Trần Anh T, sinh năm 1998, trú tại số nhà B, đường N, phường H, thành phố B để tại đó. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, Đ đi đến mở khóa điện rồi điều khiển xe đi theo hướng qua cầu Á Lữ về thị xã V. Khi đi đến khu vực cây xăng thuộc phường T, thị xã V, Đ dừng lại kiểm tra trong cốp xe thì thấy có 01 giấy đăng ký xe mô tô và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô BKS 29L1-771.25 mang tên Trần Anh T. Sau đó, Đ tiếp tục điều khiển xe đi đến cửa hàng “Dịch vụ cầm đồ 114” ở số A, TDP M, phường N, thị xã V. Tại đây, Đ gặp anh Cao Thiên N, sinh năm 2001, trú tại TDP V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình là nhân viên cửa hàng. Đ đặt vấn đề muốn cầm cố chiếc xe rồi đưa cho anh N xem đăng ký xe mô tô. Anh N kiểm tra và đồng ý nhận cầm cố với số tiền là 7.000.000 đồng. Đ có viết và ký nhận vào Hợp đồng cầm đồ rồi đưa cho anh N giữ kèm theo xe mô tô BKS 29L1-771.25 và giấy đăng ký xe; Đ giữ bản giấy than và giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe. Sau đó, anh N chuyển cho Đ 7.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số 9394955469 mang tên Cao Thiên N đến tài khoản ngân hàng M số 98888882003 mang tên Lê Công Đ.
Khoảng 12 giờ ngày 18/12/2024, do đã chi tiêu hết tiền, Đ đi bộ từ nhà trọ đến cửa hàng “Dịch vụ cầm đồ 114” gặp chủ cửa hàng là anh Trần Văn T1, sinh năm 1999, trú tại xóm G, xã K, huyện V, tỉnh Nam Định đặt vấn đề muốn bán chiếc xe mô tô BKS 29L1-771.25. Anh T1 kiểm tra hợp đồng cầm đồ và trả thêm 1.500.000 đồng thì Đ đồng ý và viết giấy bán xe. Anh T1 giữ giấy bán xe và hủy bản gốc hợp đồng cầm đồ sau đó chuyển khoản số tiền 1.400.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T2 số 6238626299 mang tên Trần Văn T1 đến tài khoản ngân hàng M số 98888882003 mang tên Lê Công Đ và đưa cho Đ 100.000 đồng tiền mặt. Đ đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 19/12/2024, anh Trần Anh T có đơn trình báo về việc bị trộm cắp xe mô tô BKS 29L1-771.25. Ngày 20/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B
2
triệu tập Lê Công Đ lên làm việc. Đ đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản và tự nguyện giao nộp:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, gắn sim số 0327.650.144, đã qua sử dụng của Đ (bút lục 125);
- + 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, xe gắn máy, BKS 29L1-771.25, mang tên Trần Anh T (bút lục 145-146).
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Lê Công Đ thu giữ 01 Hợp đồng cầm đồ 114, chữ viết in than (bút lục 29).
Quá trình điều tra, anh Cao Thiên N tự nguyện giao nộp:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh - đen - bạc, BKS 29L1-771.25 đã qua sử dụng;
- + 01 đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô BKS 29L1-771.25, mang tên Trần Anh T (bút lục 101)
- + 01 Giấy bán xe mang tên Lê Công Đ, đề ngày 18/12/2024 (bản gốc) (bút lục 44)
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh mang tên “Hộ kinh doanh cầm đồ 114”, chủ hộ Trần Văn T1 (bút lục 109)
- + Sao kê tài khoản V số 9394955469 mang tên Cao Thiên N thể hiện giao dịch chuyển khoản 7.000.000 đồng đến tài khoản 98888882003 mang tên Lê Công Đ tại Ngân hàng MB ngày 16/12/2024;
- + 01 ảnh nội dung giao dịch chuyển khoản từ Ngân hàng T3 Trần Văn T1 chuyển khoản 1.400.000 đồng đến tài khoản 98888882003 mang tên Lê Công Đ tại Ngân hàng MB ngày 18/12/2024 (bút lục 106-111).
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã yêu cầu định giá tài sản Đ trộm cắp. Kết luận định giá tài sản số 321 ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
“Chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh - đen - bạc biển kiểm soát: 29L1-771.25, đăng ký ngày 17/12/2019, xe đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 16/12/2024 là 11.000.000 đồng” (bút lục 36).
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã trưng cầu giám định chữ viết của Lê Công Đ trên “Giấy bán xe” ngày 18/12/2024.
Kết luận giám định số 177/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Lê Công Đ trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra” (bút lục 43).
Cơ quan điều tra kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus gắn sim số 0327.650.144 đã thu giữ của Đ thấy tại ứng dụng tài khoản ngân hàng
3
M1 số 98888882003 mang tên Lê Công Đ vào ngày 16/12/2024 có nhận 7.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V số 9394955469 mang tên Cao Thiên N (bút lục 102).
Cơ quan điều tra cho anh N nhận dạng ảnh của Đ và cho Đ nhận dạng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 29L1-771.25 do anh N giao nộp. Kết quả, anh N nhận ra Đ là người cầm cố xe mô tô BKS 29L1-771.25 (bút lục 61). Đ nhận ra chiếc xe mô tô BKS 29L1-771.25 là do Đ trộm cắp ngày 16/12/2024 tại trước cửa số nhà B đường L, phường H, thành phố B (bút lục 64).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đ đã bồi thường số tiền 8.500.000 đồng cho anh Trần Văn T1; đến nay anh T1 không đề nghị gì khác.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 29L1-771.25 kèm theo giấy đăng ký xe và giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS cho anh Trần Anh T là chủ sở hữu.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, gắn sim số 0327.650.144 thu giữ của Lê Công Đ được nhập kho vật chứng giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Cao Thiên N và anh Trần Văn T1 nhận cầm cố và mua chiếc xe mô tô BKS 29L1-771.25 nhưng không biết là tài sản do Đ trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự. Anh N nhận cầm cố xe mô tô BKS 29L1-771.25 có vi phạm hành chính “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã đề nghị Công an thị xã V xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Cáo trạng số: 58/CT-VKS, ngày 26/2/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Lê Công Đạt về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Công Đ từ 07 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Giao bị cáo Lê Công Đ cho UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- * Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- * Áp dụng: Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Trả lại bị cáo Lê Công Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, gắn sim số 0327.650.144, đã qua sử dụng là tài sản không liên quan việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo Lê Công Đ nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp điều tra bổ sung, tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 16/12/2024 tại trước cửa số nhà B, đường L, phường H, thành phố B, Đ đã trộm cắp của anh Trần Anh T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 29L1-771.25 trị giá 11.000.000 đồng sau đó đi đến cửa hàng “Dịch vụ cầm đồ 114” tại Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cầm cố để vay số tiền 7.000.000 đồng. Đến ngày 18/12/2024, Đ bán chiếc xe này với giá 8.500.000 đồng đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô BKS 29L1-771.25 và trả lại cho người bị hại.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Công Đ phù hợp với: Đơn trình báo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 321 ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “Chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh - đen - bạc biển kiểm soát: 29L1-771.25, đăng ký ngày 17/12/2019, xe đã qua sử dụng, có giá trị là 11.000.000 đồng”. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Lê Công Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 01 Điều 173 của BLHS. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Gây mất trật tự trị an địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: không có.
5
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đầu thú. Người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có ông nội là Lê Công H1 được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba và là thương binh. Nên bị cáo Lê Công Đ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS.
[5] Xem xét nhân thân của bị cáo Lê Công Đ là người chưa có tiền án, chưa có tiền sự. Bản thân bị cáo ngoài lần vi phạm này thì chưa có lần vi phạm pháp luật nào khác. Bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, quá trình sinh sống ở địa phương luôn chấp hành tốt pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Xét thấy việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho họ sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội, do vậy đối với bị cáo không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo Lê Công Đ được hưởng mức án treo theo quy định tại Điều 65 của BLHS cũng đủ để bị cáo lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đ đã bồi thường số tiền 8.500.000 đồng cho anh Trần Văn T1. Đến nay anh T1 không đề nghị gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Trả lại bị cáo Lê Công Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, gắn sim số 0327.650.144, đã qua sử dụng là tài sản không dùng vào việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Đối với anh Cao Thiên N và anh Trần Văn T1 nhận cầm cố và mua chiếc xe mô tô BKS 29L1-771.25 nhưng không biết là tài sản do Đ trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là đúng. Anh N nhận cầm cố xe mô tô BKS 29L1- 771.25 có vi phạm hành chính “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã đề nghị Công an thị xã V xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Công Đ 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.
Giao bị cáo Lê Công Đ cho UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.
-
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Trả lại bị cáo Lê Công Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, gắn sim số 0327.650.144, đã qua sử dụng là tài sản không liên quan việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Công Đ phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo (có mặt) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt ) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
7
Bản án số 50/2025/HSST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 50/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Công Đ trộm cắp tài sản
