Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày 17 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu, ông Tẩn A Sếnh

Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Lò Trí Siêu – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST - HS ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 13/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn C; sinh ngày: 27/02/1996, tại huyện S, tỉnh Lai Châu; giới tính: Nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Lò Văn C1, sinh năm 1974, con bà: Lò Thị T, sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 03 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Lò Thị B, Sinh năm: 1996; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con thứ hai sinh năm 2016, con thứ ba sinh năm 2020; Hiện vợ, con bị cáo đang cư trú tại bản Ná Đon, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/6/2024, đến ngày 02/7/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực S, tỉnh Lai Châu đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: anh Lò Văn N, sinh năm 1991. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu.

* Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Văn H – Luật sư. Vắng mặt

Địa chỉ: Văn phòng L – Đoàn luật sư Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, Lò Văn C và Lò Văn N, sinh năm 1991 trú tại bản Ná Đon, xã N, huyện S đang ngồi uống nước tại ngã tư xã N huyện S. Tại đây, N hỏi C có tiền đi mua H1 để sử dụng không, nếu có thì mua Heroine cho N sử dụng cùng. Khi C và N đang nói chuyện, thì có một người đàn ông dân tộc T1, khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) đến hỏi C có mua Heroine không? Nếu có thì sẽ đi mua hộ. C đồng ý, đưa cho người đàn ông này 200.000 đồng nhờ mua hộ Heroine. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông này quay lại, gọi C ra đường và đưa cho C 02 gói Heroine mỗi gói được bọc bằng mảnh nilon màu hồng và gói chung lại bằng mảnh giấy vệ sinh màu trắng. Nhận gói H1, C cầm trên tay phải để quay lại quán nước chỗ N đang ngồi. Còn người đàn ông dân tộc Thái đi đâu, làm gì C không biết. Đến hồi 17 giờ 45 phút cùng ngày 26/6/2024, tại khu vực ngã tư thuộc bản N, xã N, huyện S, Tổ công tác Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện Lò Văn C có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy, nên đã yêu cầu kiểm tra, do lo sợ hành vi của mình bị phát hiện Lò Văn C đã thả gói Heroine trên xuống đất cạnh vị trí C đang đứng. Tổ công tác đã yêu cầu C nhặt gói Heroine như đã mô tả ở trên giao nộp. Tại đây, Lò Văn C khai nhận đó là gói Heroine của C tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn C về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 221 ngày 26/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: gói thứ nhất ký hiệu M1 có khối lượng là 0,09 gam; gói thứ hai ký hiệu M2 có khối lượng là 0,12 gam. Tổng khối lượng 02 gói M1, M2 là 0,21 gam.

Bản Kết luận giám định số 870/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy; loại: Heroine.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,21 gam chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn C, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật sau giám định. Vật chứng còn lại gồm: 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 02 mảnh nilon màu hồng.

Bản cáo trạng số 71/CT - VKSSH ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Lò Văn C ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Lò Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 02 mảnh nilon màu hồng.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa và có gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí và không có tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Hồi 17 giờ 45 phút ngày 26/6/2024, tại ngã tư thuộc bản N, xã N, huyện S, bị cáo Lò Văn C đang tàng trữ trái phép 0,21 gam Heroine. Mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Lò Văn C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 02 mảnh nilon màu hồng là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

[6] Về các vấn đề liên quan:

- Nguồn gốc Heroine bị thu giữ, Lò Văn C khai nhờ một người đàn ông dân tộc T1, khoảng 30 tuổi, không rõ lai lịch đi mua giúp, ngoài lời khai duy nhất của C không có chứng cứ khác chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.

- Đối với Lò Văn N là người xin C cho sử dụng cùng nếu mua được Heroine: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xác định, N không hứa hẹn về việc góp chung tiền và không giúp C việc đi mua Heroine. Bị cáo C khai rõ hành vi phạm tội của bị cáo chỉ có một mình bị cáo. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện S không đề cập xử lý đối với Lò Văn N là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 02 mảnh nilon màu hồng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 22/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Chi Cục THADS huyện Sìn Hồ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Sìn Hồ;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger