Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 50/2025/HSST

Ngày: 13/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hữu Tới

2. Ông Nguyễn Trọng Thuý

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Văn C - sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Viết S, (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, (đã chết); vợ: Nguyễn Thị H - sinh năm 1986; có 01 con, sinh năm 2021; nhân thân: ngày 23/12/2008, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 09 tháng tù treo về tội Trộm cắp tài sản; ngày 22/7/2022, bị UBND xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; tiền sự: không; tiền án: ngày 18/4/2023, bị Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tạm giữ: 06/9/2024; tạm giam: 12/9/2024; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; (có mặt).
  2. Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1959; con bà Trần Thị L, sinh năm 1967; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 3; vợ, con: chưa; nhân thân: năm 2020, bị Toà án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích theo bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HS-ST ngày 20/4/2020 và bản án hình sự phúc thẩm số 54/2020/HS-PT ngày 17/7/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giữ: 06/9/2024; tạm giam: 12/9/2024; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; (có mặt).
  3. Trần Thanh B - sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu N1 (đã chết) và bà Trương Thị D, sinh năm 1964; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: chưa; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giữ: 06/9/2024; tạm giam: 12/9/2024; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; (có mặt).
  4. Lê Thị H2 - sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: mua bán phế liệu và kinh doanh tạp hóa; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Trọng L1 (đã chết) và bà Trịnh Thị T2, sinh năm 1957; chồng: Lê Văn H3, sinh năm 1977; có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giữ: 06/9/2024; tạm giam: 12/9/2024; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; (có mặt).

- Bị hại: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Q, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T3 – sinh năm 1971

Địa chỉ: Trung tâm V, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/7/2024, Hoàng Văn C, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình đi xe khách từ thành phố Hà Nội về tỉnh Quảng Bình, khi qua đoạn QL1A thuộc địa bàn huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì thấy ở huyện Q có nhiều mặt bằng quy hoạch dọc hai bên đường Quốc lộ, chưa có dân cư sinh sống nên nảy sinh ý định về Quảng Bình sẽ rủ thêm người quay lại đây trộm dây cáp điện ngầm để thực hiện hành vi trộm cắp. C lên mạng Internet đặt mua 01 kìm dài 45cm, cán bằng kim loại bọc nhựa màu đen dài 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 20cm, ký hiệu J52 - là dụng cụ chuyên dùng để cắt dây cáp điện ngầm với giá 1.700.000 đồng. Cảnh gặp Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992 người cùng thôn với C và rủ T1 đi trộm dây cáp điện ở Thanh Hoá thì T1 đồng ý.

Trưa ngày 22/7/2024, C mượn xe máy Wave alpha màu trắng, biển kiểm soát 73G1- 29952 của anh Nguyễn Mậu H4, sinh năm 1976 (người cùng thôn) để chở T1 đi từ Quảng Bình ra Thanh Hoá mang theo chiếc kìm cắt cáp J52. Trên đường đi, C dừng xe ở tỉnh Hà Tĩnh để mua thêm một chiếc kìm (loại kìm cắt thông thường) dài 57cm, ký hiệu 600MM, mục đích dùng để cắt ngắn lõi cáp đồng sau khi đã bóc vỏ.

Chiều ngày 23/7/2024, C, T1 có mặt tại địa bàn huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, đi dọc đường QL1A vào cửa hàng bán đồ điện mua thêm 01 chiếc xà beng (loại đặc) một đầu dẹt, một đầu nhọn dài khoảng 01 mét; 01 bút thử điện; 06 bì xác rắn màu vàng; 10 đôi bao tay; 02 dao dọc giấy; 01 dây thừng dài khoảng 3-4 mét để phục vụ cho việc trộm cắp. C cùng T1 đến mặt bằng khu dân cư mới X, thuộc xã Q, huyện Q để khảo sát, mở tủ điện kiểm tra xác định mặt bằng có hệ thống đường dây cáp điện ngầm, chưa có dân cư sinh sống, không có hệ thống camera giám sát nên quyết định sẽ trộm dây cáp điện ở đây và cất giấu các công cụ đã chuẩn bị vào bụi cỏ rậm ở khu mặt bằng phía Nam, rồi cùng nhau đi tìm điểm thu mua phế liệu. Khi đi dọc Quốc lộ A, cách hiện trường khoảng 2-3 km theo hướng từ Bắc vào N, thấy cửa hàng buôn bán phế liệu và hàng tạp hoá của Lê Thị H2, sinh năm 1983, trú tại thôn D, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. C - T1 vào mua nước, gợi ý sẽ bán dây đồng thì H2 đồng ý thu mua với giá 190.000 đồng/1 kg. C - T1 xin số điện thoại của H2, hẹn khi nào có dây đồng thì sẽ mang đến bán. Đêm ngày 23/7/2024, C - T1 đi xe máy quanh mặt bằng để khảo sát đường vào, đường ra sau khi trộm cắp, tránh việc đi đường lớn sẽ gặp người dân hoặc lực lượng đi tuần đêm. Sau khi khảo sát, hai đối tượng quyết định sẽ trộm dây cáp ngầm tại khu vực mặt bằng phía Nam (giáp với ruộng lúa) rồi đi xe máy dọc theo đường nhánh nhỏ ở ruộng lúa nối thẳng đến mặt bằng thì phát hiện đường này nối với đường bê tông dọc bên hông trường THPT Đ1, từ đường bê tông có thể đi thẳng ra QL1A để rời khỏi hiện trường, tuyến đường này tối, không có người vào ban đêm. Do vậy, C - T1 bàn nhau sẽ vào, ra khỏi hiện trường bằng tuyến đường này sau khi đã trộm được dây cáp điện.

Cách thức thực hiện hành vi trộm cắp: C và T1 đi xe máy vào đường bê tông bên hông trường học để vào hiện trường, dựng xe máy ở đường ruộng (cách mặt bằng khoảng 20-30 mét) rồi đi bộ vào mặt bằng Xa Thư. Khi vào đến nơi thì lấy các dụng cụ đã cất giấu sẵn, đeo găng tay, cầm bút thử điện đi dọc các tủ điện để kiểm tra thấy chưa đóng điện. C bảo T1 dùng tay thò vào khoảng hở ở bệ đặt tủ điện để kéo cổ dây cáp điện nối với tủ điện dịch ra ngoài vừa đủ để C đặt lưỡi kìm kẹp vào đầu dây, dùng hai tay cầm hai đầu cán kìm chuyên dụng và thực hiện động tác cắt dây cáp khoảng 40-50 giây thì đứt. Tiếp đó, đi đến tủ điện liền kề để thực hiện hành vi cắt đầu dây còn lại. Sau khi cắt được 2 đầu dây cáp, C gấp đôi đoạn dây thừng lại, buộc hai đầu nối với nhau, tiếp đến kéo một đầu dây cáp điện ra khỏi khoảng hở của bệ tủ điện rồi luồn dây thừng xuống dưới dây cáp điện, đưa một đầu dây thừng vào trong đầu gấp còn lại và kéo căng đầu dây để dây thừng siết chặt vào đầu dây điện ngầm đã cắt, đồng thời C dùng đoạn gậy gỗ dài khoảng 2 mét, đường kính khoảng 5-7cm lấy ở gần hiện trường luồn vào đầu dây thừng rồi tựa một đầu gậy xuống đất để lấy điểm tựa. C - T1 dùng gậy làm đòn bẩy để kéo dần đoạn dây cáp lên khỏi ống ren ngầm. Khi đã kéo dây lên được khoảng 4 -5 mét thì C dùng kìm J52 cắt đoạn dây, tiếp tục lồng dây thừng xiết chặt dầu dây cáp vừa bị cắt để kéo dây ra khỏi ống ngầm dưới đất, mỗi lần cắt thành đoạn ngắn từ 4-5 mét rồi mới kéo tiếp. Khi kéo lên được lượng dây vừa đủ thì kéo các đoạn dây đã cắt ra đoạn đường đất nhỏ gần khu vực để xe máy, dùng dao dọc giấy để dọc bỏ lớp vỏ, chỉ lấy phần lõi cáp đồng bên trong rồi dùng kìm dài để chia nhỏ các đoạn dây thành các đoạn ngắn chiều dài khoảng 60-70 cm để bỏ vừa bì xác rắn. Sau đó, mang số lượng vỏ dây đến khu vực cống thoát nước của mặt bằng, dùng xà beng cạy nắp cống lên bỏ hết vỏ dây vào nắp cống rồi đậy nắp lại. Đối với các công cụ dùng để trộm cắp thì thu dọn, cất giấu lại vị trí cũ tại mặt bằng. Từ ngày 12/8/2024, C rủ thêm Trần Thanh B, sinh năm 1992 ở xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình tham gia trộm cắp cùng.

Trong khoảng thời gian từ ngày 25,26/7/2024 và 12,13,14/8/2024, các bị cáo C, T1, B đã thực hiện liên tiếp 05 vụ trộm cắp dây cáp điện tại mặt bằng thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể:

  • Vụ thứ nhất: đêm 24, rạng sáng ngày 25/7/2024, C - T1 lấy trộm 33 m của đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 95 + 1c x 70, từ tủ 06 đến tủ 07, thuộc L, Trạm Biến áp số 2. Số lõi cáp đồng lọc ra bán cho H2 được 105,3kg với số tiền là 20.000.000 đồng.

    Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Q kết luận: Đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC dài 33m có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 95 + 1c x 70 tại thời điểm chiếm đoạt ngày 25/7/2024 được xác định giá trị là: 33m x 1.470.864đ/m = 48.538.512 đồng.

  • Vụ thứ hai: đêm ngày 25, rạng sáng 26/7/2024, C - T1 lấy trộm 33 m của đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 95 + 1c x 70, từ tủ 06 đến tủ 07, thuộc L, Trạm Biến áp số 2. Số lõi cáp đồng lọc ra bán cho H2 được 105,3kg với số tiền là 20.000.000 đồng.

    Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Q kết luận: Đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC dài 33m có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 95 + 1c x 70 tại thời điểm chiếm đoạt ngày 25/7/2024 được xác định giá trị là: 33m x 1.470.864đ/m = 48.538.512 đồng.

  • Vụ thứ ba: đêm ngày 11, rạng sáng ngày 12/8/2024, C - T1 - B lấy trộm 42m dây CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 70 + 1c x 50 và 36m dây có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 70 + 1c x 50, từ tủ 10 đến tủ A, L, Trạm Biến áp số 2. Số lõi cáp đồng lọc ra bán cho H2 được 194,7kg với số tiền là 37.000.000 đồng.

    Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Q kết luận: Các đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC gồm: 42m dây có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 70 + 1c x 50 và 36m dây có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 70 + 1c x 50 tại thời điểm chiếm đoạt ngày 12/8/2024 được xác định giá trị là: 78m x 1.076.003đ/m = 83.928.234 đồng.

  • Vụ thứ tư: đêm ngày 12, rạng sáng ngày 13/8/2024, C - T1 - B lấy trộm 78 m dây CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 95 + 1c x 70, từ tủ 09 đến tủ 10, L, Trạm Biến áp số 2; Số lõi cáp đồng lọc ra bán cho H2 được 152,6 kg với số tiền là 29.000.000 đồng.

    Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Q kết luận: Đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC dài 78m có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 95 + 1c x 70 tại thời điểm chiếm đoạt ngày 13/8/2024 được xác định giá trị là: 78m x 1.470.864đ/m = 114.727.392 đồng.

  • Vụ thứ năm: đêm ngày 13, rạng sáng ngày 14/8/2024, C - T1 - B lấy trộm đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC dài 66m có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 120 + 1c x 95 từ tủ 03 đến tủ 04, L, Trạm Biến áp số 2. Đoạn dây cáp này đã được kéo lên khỏi ống ren ngầm, chia thành 11 đoạn. Tuy nhiên, do có nhóm người đi 4 xe máy vào hiện trường lo sợ là lực lượng chức năng đi tuần nên cả ba vứt kìm, các công cụ và số dây cáp lại hiện trường để bỏ chạy. Do đó, số dây cáp này chưa tiêu thụ được.

    Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Q kết luận: Đoạn dây cáp CADISUN loại Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC dài 66m có thông số kỹ thuật DSTA 3c x 120 + 1c x 95 tại thời điểm chiếm đoạt ngày 14/8/2024 được xác định giá trị là: 66m x 1.879.150đ/m = 124.023.900 đồng.

Từ ngày 25/7/2024 đến 13/8/2024, Lê Thị H2 đã chuyển khoản ngân hàng 04 lần liên tục thanh toán tiền mua lõi đồng dây điện với tổng số tiền 106.000.000 đồng, trọng lượng khoảng 558 kg đồng. H2 biết đây là tài sản phạm pháp, chỉ có trộm cắp mới bán lõi đồng dây điện về sáng để tránh bị phát hiện, với tâm lý nhận thức về tài sản trộm cắp mà có nên các lần chuyển khoản cho C - T1, H2 đều nhờ người khác chuyển khoản không trực tiếp sử dụng tài khoản Ngân hàng của mình để chuyển nhằm che giấu việc trực tiếp thu mua lõi đồng, dây điện của C, T1, B tránh sự phát hiện của Cơ quan chức năng.

Sau khi đã thu mua được số lượng đồng trên thì H2 bán cho Nguyễn Thị C1, sinh năm 1986, trú tại thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 22/8/2024, Cơ quan CSĐT đã khám xét nhà C1 vào nhưng không thu được gì do C1 đã bán dây cáp điện cho Nguyễn Thị Thu H5, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. H5 đã đem nhiều dây đồng, ở nhiều nơi và bán cho Đỗ Thị T4, sinh năm 1975 là chủ cơ sở thu mua phế liệu (ở cùng thôn). Do số lượng dây đồng lẫn lộn với dây đồng có nguồn gốc ở nhiều nơi khác, đã bán qua nhiều người nên không thu giữ được.

Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ án tại mặt bằng khu dân cư mới Xa Thư thuộc thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, chủ đầu tư là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Q. Phía Đông trục chính của mặt bằng là tuyến đường nối từ Quốc lộ A (T) đi xã Q (Đ), có chiều dài 535m, vị trí các tủ điện đến các nhà dân khu vực này gần nhất khoảng 15m. Bám hai bên trục chính là trục dọc đường phụ và các nhánh đường xương cá. Hiện tại mặt bằng đã được hoàn thiện và bàn giao cho UBND xã Q. Hệ thống dây cáp điện tại mặt bằng được thiết kế đi ngầm dưới lòng đất, các dây được nối thông qua các tủ điện. Khoảng cách giữa các tủ điện không đều từ 30m đến 125m. Tủ điện nằm trên vỉa hè được đặt trên để bê tông, khoảng hỡ ở giữa đế bê tông là 0,175m x 0,28m, tủ có kích thước 66cm x 50cm x 97cm. Một số tủ điện tại mặt bằng có dấu vết nứt vỡ tại các ổ khoá, nhiều tủ điện trong tình trạng không khoá chỉ có mấu chốt kim loại... Tại hiện trường, phát hiện các nhiều đoạn vỏ dây điện bị cắt bóc tách khỏi lõi dây để lại gần các tủ điện, dấu vết cắt bóc tách sắc gọn. Kiểm tra các vỏ dây bị bóc tách và các đoạn dây bị đứt ghi nhận được 03 loại dây điện vỏ màu đen, trên vỏ dây có thông số DSTA 3c x 70 + 1c x 50, DSTA 3c x 95 + 1c x 70, DSTA 3c x 120 + 1c x 95. Các dây điện có cấu tạo gồm 04 lõi dây điện nhỏ, bên trong lõi dây điện nhỏ là các lõi đồng. Tại lớp vỏ nhựa các đoạn dây phát hiện các dấu vết vân vải. Nhiều tủ điện có các đoạn dây điện ngắn đã bị cắt hai đầu được đặt lại vào bên trong tủ điện và các ống nhựa ruột gà hoặc nhét các vỏ dây điện đã bị bóc tách vào bên trong khe hở đế bê tông để tủ điện. Xung quanh khu vực hiện trường nhà dân thưa thớt.

Vật chứng vụ án: 01 xe máy nhãn hiệu AIRBLADE màu đỏ đen, biển kiểm soát 73G1 -131.98 là xe của bị cáo Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 màu đen đã qua sử dụng được gắn số điện thoại 0845.787.xxx của Lê Thị H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi cảm ứng của Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M33 màu tím đã qua sử dụng, lắp sim điện thoại 0338.853.xxx và 0974.161.500 của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo cảm ứng lắp sim điện thoại 0981.945.xxx của Hoàng Văn C; 08 đoạn dây cáp điện có đặc điểm dài lần lượt khoảng 5m15; 5m6; 4m2; 5m; 5m12; 5m50; 5m8; 3m77 tất cả các đoạn dây cáp đều có vỏ bọc bằng nhựa bên ngoài màu đen, đường kính khoảng 3cm, bọc bên trong 4 lõi bằng kim loại màu đồng; 02 kìm dạng kìm cộng lực bằng kim loại, chiếc thứ nhất dài khoảng 57cm, cán dài khoảng 47cm, phần dưới cán bọc nhựa cao su màu đen dài khoảng 12cm, lưỡi kìm màu xám dài khoảng 10cm, ký hiệu 600MM; chiếc thứ 2 dài khoảng 45cm, cán bằng kim loại bọc nhựa màu đen dài khoảng 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm phía trên có dòng chữ “GC Baochau Telecom J52”; 01 bì xác rắn màu vàng, bên trong bì có 01 đoạn dây thừng bằng ni lông màu trắng đục dài 5,2m; 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquafina loại 1,5 lít, 01 vỏ bằng nhựa màu vàng đựng các lưỡi dao (dạng lưỡi dao dọc giấy); 03 găng tay bằng vải (dạng găng tay dùng cho lao động); 12 đoạn dây điện ngắn đã bị cắt hai đầu được đặt lại vào bên trong tủ điện và ống nhựa ruột gà; 03 đoạn dây cáp điện có chiều dài lần lượt là 5,35m, 4,5m, 6m tại khu vực gần tủ điện T7, khu vực lộ A, trạm biến áp số B2; 01 đoạn vỏ bọc dây cáp điện; 03 bì xác rắn chứa lớp vật liệu màu trắng (lớp chống cháy), được ký hiệu từ bì số 1 đến bì số 3. Trọng lượng bì số 1 là 21 kg; bì số 2 là 12 kg; bì số 3 là 12 kg. Tổng trọng lượng là 45 kg; 06 bì xác rắn chứa lớp vỏ nhựa màu đen (lớp vỏ ngoài cùng của dây), được ký hiệu từ bì số 4 đến bì số 9. Trọng lượng bì số 4 là 25 kg; bì số 5 là 6 kg; bì số 6 là 15 kg; bì số 7 là 25 kg; bì số 8 là 24 kg; bì số 9 là 20 kg. Tổng trọng lượng là 115 kg; 04 bì xác rắn chứa lớp vỏ kim loại (lớp chống va đập của dây), được ký hiệu từ bì số 10 đến bì số 13. Trọng lượng bì số 10 là 48 kg; bì số 11 là 34 kg; bì số 12 là 20 kg; bì số 13 là 54 kg. Tổng trọng lượng là 156 kg.

Toàn bộ vật chứng này được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Q, tỉnh Thanh Hoá báo cáo tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 471.947.250 đồng, yêu cầu các đối tượng phải bồi thường đối với thiệt hại đã gây ra theo quy định của pháp luật. Hiện các bị cáo chưa bồi thường, khắc phục hậu quả.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Cảnh, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thanh B1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS; Lê Thị H2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 BLHS.

Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin xử vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của bị hại. Theo đó, người đại diện theo ủy quyền của bị hại trình bày tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 471.947.250 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết buộc các bị cáo phải bồi thường đối với thiệt hại đã gây ra theo quy định của pháp luật.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52;Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với 03 bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS (đối với bị cáo C); Đ c khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H6. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lê Thị H2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cụ thể như sau: Hoàng Văn C từ 11 đến 12 năm tù.; bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 10 đến 11 năm tù; bị cáo Trần Thanh B từ 9 đến 10 năm tù; bị cáo Lê Thị H2 từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.

- Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ban quản lý đầu tư xây dựng huyện Q gồm: số tiền theo định giá là 419.756.550 đồng; số tiền 52.190.700 đồng là tiền nhân công, máy thi công để hoàn thiện lắp đặt cho 1 m chiều dài dây điện; Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 BLDS, đề nghị HĐXX buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại như sau: bị cáo Hoàng Văn C bồi thường 200.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T1 bồi thường 171.000.000 đồng; bị cáo Trần Thanh B bồi thường 100.947.250 đồng;

- Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng: Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

  • Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu AIRBLADE màu đỏ đen, biển kiểm soát 73G1 -131.98 là xe của bị cáo Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 màu đen đã qua sử dụng được gắn số điện thoại 0845.787.xxx của Lê Thị H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi cảm ứng của Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M33 màu tím đã qua sử dụng, lắp sim điện thoại 0338.853.xxx và 0974.161.500 của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo cảm ứng lắp sim điện thoại 0981.945.xxx của Hoàng Văn C; 08 đoạn dây cáp điện có đặc điểm dài lần lượt khoảng 5m15; 5m6; 4m2; 5m; 5m12; 5m50; 5m8; 3m77 tất cả các đoạn dây cáp đều có vỏ bọc bằng nhựa bên ngoài màu đen, đường kính khoảng 3cm, bọc bên trong 4 lõi bằng kim loại màu đồng.
  • Tịch thu tiêu hủy: 02 kìm dạng kìm cộng lực bằng kim loại, chiếc thứ nhất dài khoảng 57cm, cán dài khoảng 47cm, phần dưới cán bọc nhựa cao su màu đen dài khoảng 12cm, lưỡi kìm màu xám dài khoảng 10cm, ký hiệu 600MM; chiếc thứ 2 dài khoảng 45cm, cán bằng kim loại bọc nhựa màu đen dài khoảng 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm phía trên có dòng chữ “GC Baochau Telecom J52”; 01 bì xác rắn màu vàng, bên trong bì có 01 đoạn dây thừng bằng ni lông màu trắng đục dài 5,2m; 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquafina loại 1,5 lít, 01 vỏ bằng nhựa màu vàng đựng các lưỡi dao (dạng lưỡi dao dọc giấy); 03 găng tay bằng vải (dạng găng tay dùng cho lao động); 12 đoạn dây điện ngắn đã bị cắt hai đầu được đặt lại vào bên trong tủ điện và ống nhựa ruột gà; 3 đoạn dây cáp điện có chiều dài lần lượt là 5,35m, 4,5m, 6m tại khu vực gần tủ điện T7, khu vực lộ A, trạm biến áp số B2; 01 đoạn vỏ bọc dây cáp điện; 03 bì xác rắn chứa lớp vật liệu màu trắng (lớp chống cháy), được ký hiệu từ bì số 1 đến bì số 3. Trọng lượng bì số 1 là 21 kg; bì số 2 là 12 kg; bì số 3 là 12 kg. Tổng trọng lượng là 45 kg; 06 bì xác rắn chứa lớp vỏ nhựa màu đen (lớp vỏ ngoài cùng của dây), được ký hiệu từ bì số 4 đến bì số 9. Trọng lượng bì số 4 là 25 kg; bì số 5 là 6 kg; bì số 6 là 15 kg; bì số 7 là 25 kg; bì số 8 là 24 kg; bì số 9 là 20 kg. Tổng trọng lượng là 115 kg; 04 bì xác rắn chứa lớp vỏ kim loại (lớp chống va đập của dây), được ký hiệu từ bì số 10 đến bì số 13. Trọng lượng bì số 10 là 48 kg; bì số 11 là 34 kg; bì số 12 là 20 kg; bì số 13 là 54 kg. Tổng trọng lượng là 156 kg.
  • Về các biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 16.740.000 đồng là tiền H2 thu lợi bất chính;
  • Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo C, T1, B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa cho hành vi của mình và không tranh luận.

Lời nói sau cùng các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, đồng thời tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, một lần nữa các bị cáo thừa nhận: Xuất phát từ lòng tham, lười lao động, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong quá trình quản lý tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 25,26/7/2024 và 12,13,14/8/2024, các bị cáo C, T1, B đã thực hiện liên tiếp 05 vụ cắt dây cáp điện tại mặt bằng thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Đây là mặt bằng mới xây dựng xong, có hệ thống dây cáp điện ngầm chưa cấp điện, chưa có hộ dân sinh sống nên Hoàng Văn C đã chuẩn bị công cụ, phương tiện, rủ Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B đi cắt dây cáp điện ở Thanh Hóa, các bị cáo đã lén lút cạy tủ điện, cắt đầu cáp điện tại các tủ điện, kéo lên mặt đất rồi cắt ngắn thành từng đoạn dài 60 cm - 70 cm, mang đi tiêu thụ tại cơ sở thu mua sắt vụn của Lê Thị H2. Cụ thể như sau: Bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Văn T1 đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 25,26/7/2024 và ngày 12,13,14/8/2024. Tổng tài sản trộm cắp được theo định giá tài sản là 419.756.550 đồng; Trần Thanh B đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 12,13,14/8/2024 cùng C, T1. Tổng tài sản trộm cắp được theo định giá tài sản là 322.679.526 đồng. Lê Thị H2 biết rõ việc các đối tượng bán dây cáp điện, lõi đồng vào rạng sáng các ngày từ 25/7/2024 đến 13/8/2024 là do các đối tượng trộm cắp mà có. Tổng giá trị tài sản, vật phạm pháp mà H2 đã mua trị giá là 295.732.650 đồng. Lê Thị H2 khai báo sau khi mua dây cáp đồng của các bị cáo C, T1, B với giá 190.000 đồng/1 kg thì H2 bán cho Nguyễn Thị C1 và người khác với giá 220.000 đồng/1 kg. Số tiền H2 thu lợi bất chính 16.740.000 đồng.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 BLHS. Hành vi mua tài sản trộm cắp được của bị cáo Lê Thị H2 có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự,

[3] Về tính chất vụ án: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Các bị cáo là người có đầy đủ sức khỏe và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, chỉ vì muốn hưởng lợi không bằng sức lao động của bản thân, các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt, thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo.

Đối với tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo H2 biết rõ tài sản do các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B phạm tội mà có, nhưng không ngăn cản mà đồng tình với người phạm tội, mua tài sản trộm cắp được đem đi tiêu thụ lấy tiền chênh lệch. Hành vi của bị cáo góp phần khuyến khích, tiếp tay cho các bị cáo khác trộm cắp tài sản, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do đó cũng cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe, giáo dục.

[4] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm, tuy nhiên trước khi phạm tội các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc với nhau từ trước, mà chỉ khi gặp sau đó các bị cáo đi cùng và tiếp nhận, hiểu ý nhau cùng tham gia trộm cắp, do vậy chỉ là đồng phạm giản đơn. Hoàng Văn C là người rủ Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B cùng nhau đi cắt trộm dây cáp điện ngầm, là người chuẩn bị công cụ, phương tiện, 05 lần thực hiện hành vi cắt dây cáp điện. Do vậy, hành vi của Hoàng Văn C có vai trò và phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất, tiếp đó là bị cáo Nguyễn Văn T1 05 lần thực hiện hành vi cắt dây cáp điện nên có vai trò thứ hai, sau cùng là Trần Thanh B 03 lần thực hiện hành vi cắt dây cáp điện nên xếp mức án thấp hơn mức án của C và T1 là phù hợp. Bị cáo H2 chịu trách nhiệm độc lập đối với hành vi tiêu thụ tài sản trộm cắp được.

[5] Về trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo C, T1 có 05 lần thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo C có ba lần thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H2 có 04 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Hoàng Văn C có tiền án, ngày 18/4/2023, bị Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nay phạm tội cùng loại, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 có nhân thân xấu từng bị Toà án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích theo bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HS-ST ngày 20/4/2020 và bản án hình sự phúc thẩm số 54/2020/HS-PT ngày 17/7/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Với hành vi phạm tội, tính chất vụ án và nhân thân của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội, cả bốn bị cáo đều ra đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo Lê Thị H2 và Trần Thanh B có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo H2 có mẹ đẻ là Chiến sỹ T được Nhà nước tặng thưởng Huy Chương kháng chiến hạng nhì; có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo tự nguyện tác động với người nhà nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và ủng hộ cho làng trẻ SOS nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Do vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho từng bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 16.740.000 đồng là tiền H2 thu lời bất chính; Đại diện gia đình bị cáo H2 đã nộp số tiền 16.740.000 đồng tại cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên lai thu tiền số 0000650 ngày 04/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp các bị cáo chưa bồi thường cho bị hại. Bị hại là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Q, tỉnh Thanh Hoá yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 471.947.250 đồng; trong đó: số tiền theo định giá là 419.756.550 đồng; số tiền 52.190.700 đồng là tiền nhân công, máy thi công để hoàn thiện lắp đặt cho 1 m chiều dài dây điện; Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 BLDS chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại như sau: bị cáo Hoàng Văn C bồi thường 200.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T1 bồi thường 171.000.000 đồng; bị cáo Trần Thanh B bồi thường 100.947.250 đồng.

[8] Về vật chứng:

Đối với: 01 xe máy nhãn hiệu AIRBLADE màu đỏ đen, biển kiểm soát 73G1 -131.98 là xe của bị cáo Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 màu đen đã qua sử dụng được gắn số điện thoại 0845.787.xxx của Lê Thị H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi cảm ứng của Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M33 màu tím đã qua sử dụng, lắp sim điện thoại 0338.853.xxx và 0974.161.500 của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo cảm ứng lắp sim điện thoại 0981.945.xxx của Hoàng Văn C; 08 đoạn dây cáp điện có đặc điểm dài lần lượt khoảng 5m15; 5m6; 4m2; 5m; 5m12; 5m50; 5m8; 3m77 tất cả các đoạn dây cáp đều có vỏ bọc bằng nhựa bên ngoài màu đen, đường kính khoảng 3cm, bọc bên trong 4 lõi bằng kim loại màu đồng; cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 02 kìm dạng kìm cộng lực bằng kim loại, chiếc thứ nhất dài khoảng 57cm, cán dài khoảng 47cm, phần dưới cán bọc nhựa cao su màu đen dài khoảng 12cm, lưỡi kìm màu xám dài khoảng 10cm, ký hiệu 600MM; chiếc thứ 2 dài khoảng 45cm, cán bằng kim loại bọc nhựa màu đen dài khoảng 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm phía trên có dòng chữ “GC Baochau Telecom J52”; 01 bì xác rắn màu vàng, bên trong bì có 01 đoạn dây thừng bằng ni lông màu trắng đục dài 5,2m; 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquafina loại 1,5 lít, 01 vỏ bằng nhựa màu vàng đựng các lưỡi dao (dạng lưỡi dao dọc giấy); 03 găng tay bằng vải (dạng găng tay dùng cho lao động); 12 đoạn dây điện ngắn đã bị cắt hai đầu được đặt lại vào bên trong tủ điện và ống nhựa ruột gà; 3 đoạn dây cáp điện có chiều dài lần lượt là 5,35m, 4,5m, 6m tại khu vực gần tủ điện T7, khu vực lộ A, trạm biến áp số B2; 01 đoạn vỏ bọc dây cáp điện; 03 bì xác rắn chứa lớp vật liệu màu trắng (lớp chống cháy), được ký hiệu từ bì số 1 đến bì số 3. Trọng lượng bì số 1 là 21 kg; bì số 2 là 12 kg; bì số 3 là 12 kg. Tổng trọng lượng là 45 kg; 06 bì xác rắn chứa lớp vỏ nhựa màu đen (lớp vỏ ngoài cùng của dây), được ký hiệu từ bì số 4 đến bì số 9. Trọng lượng bì số 4 là 25 kg; bì số 5 là 6 kg; bì số 6 là 15 kg; bì số 7 là 25 kg; bì số 8 là 24 kg; bì số 9 là 20 kg. Tổng trọng lượng là 115 kg; 04 bì xác rắn chứa lớp vỏ kim loại (lớp chống va đập của dây), được ký hiệu từ bì số 10 đến bì số 13. Trọng lượng bì số 10 là 48 kg; bì số 11 là 34 kg; bì số 12 là 20 kg; bì số 13 là 54 kg. Tổng trọng lượng là 156 kg. Là công cụ, phương tiên các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 16.740.000 đồng là tiền H2 thu lợi bất chính theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; Đại diện gia đình bị cáo H2 đã nộp số tiền 16.740.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000650 ngày 04/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo C, T1, B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; (đối với 03 bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B); điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS (đối với bị cáo C); điểm c khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị H2.
  2. Tuyên bố:

    Bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

    Bị cáo Lê Thị H2 phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  3. Xử phạt:
    • - Bị cáo Hoàng Văn C 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2024.
    • - Bị cáo Nguyễn Văn T1 10 (mười) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2024.
    • - Bị cáo Trần Thanh B 09 (chín) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2024.
    • - Bị cáo Lê Thị H2 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2024.
  4. Biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu của Lê Thị H2 số tiền thu lợi bất chính là 16.740.000 đồng, để sung vào ngân sách của Nhà nước.

    Hiện tại bị cáo H2 đã nộp số tiền 16.740.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000650 ngày 04/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 BLDS: buộc bị cáo Hoàng Văn C phải bồi thường cho bị hại số tiền: 200.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T1 phải bồi thường cho bị hại số tiền 171.000.000 đồng; bị cáo Trần Thanh B phải bồi thường cho bị hại số tiền: 100.947.250 đồng;
  6. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu AIRBLADE màu đỏ đen, biển kiểm soát 73G1 -131.98 là xe của bị cáo Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 màu đen được gắn số điện thoại 0845.787.xxx của Lê Thị H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi cảm ứng của Trần Thanh B; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M33 màu tím, lắp sim điện thoại 0338.853.xxx và 0974.161.500 của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo cảm ứng lắp sim điện thoại 0981.945.xxx của Hoàng Văn C; 08 đoạn dây cáp điện có đặc điểm dài lần lượt khoảng 5m15; 5m6; 4m2; 5m; 5m12; 5m50; 5m8; 3m77 tất cả các đoạn dây cáp đều có vỏ bọc bằng nhựa bên ngoài màu đen, đường kính khoảng 3cm, bọc bên trong 4 lõi bằng kim loại màu đồng
    • - Tịch thu và tiêu hủy: 02 kìm dạng kìm cộng lực bằng kim loại, chiếc thứ nhất dài khoảng 57cm, cán dài khoảng 47cm, phần dưới cán bọc nhựa cao su màu đen dài khoảng 12cm, lưỡi kìm màu xám dài khoảng 10cm, ký hiệu 600MM; chiếc thứ 2 dài khoảng 45cm, cán bằng kim loại bọc nhựa màu đen dài khoảng 25cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm phía trên có dòng chữ “GC Baochau Telecom J52”; 01 bì xác rắn màu vàng, bên trong bì có 01 đoạn dây thừng bằng ni lông màu trắng đục dài 5,2m; 01 chai nhựa nhãn hiệu Aquafina loại 1,5 lít, 01 vỏ bằng nhựa màu vàng đựng các lưỡi dao (dạng lưỡi dao dọc giấy); 03 găng tay bằng vải (dạng găng tay dùng cho lao động); 12 đoạn dây điện ngắn đã bị cắt hai đầu được đặt lại vào bên trong tủ điện và ống nhựa ruột gà; 3 đoạn dây cáp điện có chiều dài lần lượt là 5,35m, 4,5m, 6m tại khu vực gần tủ điện T7, khu vực lộ A, trạm biến áp số B2; 01 đoạn vỏ bọc dây cáp điện; 03 bì xác rắn chứa lớp vật liệu màu trắng (lớp chống cháy), được ký hiệu từ bì số 1 đến bì số 3. Trọng lượng bì số 1 là 21 kg; bì số 2 là 12 kg; bì số 3 là 12 kg. Tổng trọng lượng là 45 kg; 06 bì xác rắn chứa lớp vỏ nhựa màu đen (lớp vỏ ngoài cùng của dây), được ký hiệu từ bì số 4 đến bì số 9. Trọng lượng bì số 4 là 25 kg; bì số 5 là 6 kg; bì số 6 là 15 kg; bì số 7 là 25 kg; bì số 8 là 24 kg; bì số 9 là 20 kg. Tổng trọng lượng là 115 kg; 04 bì xác rắn chứa lớp vỏ kim loại (lớp chống va đập của dây), được ký hiệu từ bì số 10 đến bì số 13. Trọng lượng bì số 10 là 48 kg; bì số 11 là 34 kg; bì số 12 là 20 kg; bì số 13 là 54 kg. Tổng trọng lượng là 156 kg.

    (Toàn bộ vật chứng trên đang được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số:86/THA, ngày 12 /3/2025 giữa Cục Thi hành án dân sự và Công an tỉnh T).

  7. Án phí: Căn cứ Điều 135; 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

    Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo Hoàng Văn C phải chịu 10.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu: 8.550.000 đồng, bị cáo Trần Thanh B phải chịu: 5.047.363 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

- TAND cấp cao tại Hà Nội;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- CQCSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;

- Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;

- Phòng THAHS và HTTP CA tỉnh T.Hoá;

- Các bị cáo; bị hại;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HSST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 50/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger