TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 3 - 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Bé
- Ông Trương Phước Công
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 761/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Mỹ N, sinh năm 1990
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Số C, tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Mỹ N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do tự tìm hiểu nên chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 10/8/2009. Sau khi kết hôn, chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 chung sống tại số C, tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến tháng 7/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn N1 không quan tâm gia đình, không phụ kinh tế để cùng chăm lo cho gia đình; không cùng vợ chia sẻ việc chăm sóc gia đình (cụ thể là khi bùng phát dịch Covid-19, con chung tên Nguyễn Thị Thúy D và mẹ ruột của chị Phan Thị Mỹ N cùng bị nhiễm Covid-19, chị Phan Thị Mỹ N phải đi chăm sóc cho mẹ ruột nên nhờ anh Nguyễn Văn N1 chăm sóc cho con chung nhưng anh Nguyễn Văn N1 từ chối vì cho rằng đó là trách nhiệm và là lỗi của gia đình vợ). Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Cuối năm 2021, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trong nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1; bản thân chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 không cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phan Thị Mỹ N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N1.
Về con chung: Chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh ngày 25/6/2009; hiện nay con chung đang sống cùng chị Phan Thị Mỹ N. Khi ly hôn, chị Phan Thị Mỹ N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thúy D; không yêu cầu anh Nguyễn Văn N1 cấp dưỡng nuôi con chung. Nghề nghiệp hiện nay của chị Phan Thị Mỹ N là đầu bếp nấu ăn cho nhà trẻ với mức thu nhập 5.200.000 đồng/tháng nên đủ để nuôi con. Hiện nay, chị Phan Thị Mỹ N và con chung đang sinh sống tại nhà của mẹ ruột của chị Phan Thị Mỹ N thuộc số C, tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.
Anh Nguyễn Văn N1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chị Phan Thị Mỹ N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Anh Nguyễn Văn N1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Mỹ N. Về quan hệ hôn nhân, chị Phan Thị Mỹ N được ly hôn với anh Nguyễn Văn N1. Về con chung, chị Phan Thị Mỹ N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con
chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh ngày 25/6/2009; anh Nguyễn Văn N1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, anh Nguyễn Văn N1 có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 25/02/2025 xác định, anh Nguyễn Văn N1 có cư trú và đăng ký thường trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện nay thường vắng mặt tại địa phương do đi làm ăn xa; địa phương không xác định được thời gian trở về và nơi làm việc của anh Nguyễn Văn N1 do anh Nguyễn Văn N1 không có trình báo chính quyền địa phương. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Nguyễn Văn N1 tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Chị Phan Thị Mỹ N khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Nguyễn Văn N1; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Nguyễn Văn N1 (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Đối với anh Nguyễn Văn N1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, chị Phan Thị Mỹ N đề nghị xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn N1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N1 của chị Phan Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Phan Thị Mỹ N cho rằng, chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến tháng tháng 7/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn N1 không quan tâm gia đình, không phụ kinh tế để cùng chăm lo cho gia đình; không cùng vợ chia sẻ việc chăm sóc gia đình. Đến cuối năm 2021, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trong nên vợ chồng sống ly
thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1; bản thân chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 không cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phan Thị Mỹ N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn N1.
Anh Nguyễn Văn N1 đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Mỹ N.
Xét thấy, chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Nguyễn Văn N1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Mỹ N theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 theo quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Văn N1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Nguyễn Văn N1 không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 nên lời trình bày của chị Phan Thị Mỹ N về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Phan Thị Mỹ N yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn N1 phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu được được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị Phan Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Phan Thị Mỹ N xác định chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh ngày 25/6/2009, hiện nay đang sống với chị Phan Thị Mỹ N. Khi ly hôn, chị Phan Thị Mỹ N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Nguyễn Văn N1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn N1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị Phan Thị Mỹ N, con chung hiện nay đang chị Phan Thị Mỹ N; quá trình sinh sống với chị Phan Thị Mỹ N, con chung vẫn phát triển tốt; đồng thời, cháu Nguyễn Thị Thúy D có nguyện vọng được sống với chị Phan Thị Mỹ N. Để giúp cháu Nguyễn Thị Thúy D phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần,
Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Phan Thị Mỹ N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 ly hôn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị Mỹ N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 ly hôn nên anh Nguyễn Văn N1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Phan Thị Mỹ N không yêu cầu anh Nguyễn Văn N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[2.3] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Phan Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Mỹ N.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Mỹ N được ly hôn anh Nguyễn Văn N1.
[2] Về con chung:
Chị Phan Thị Mỹ N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Thúy D, sinh ngày 25/6/2009. Hiện nay đang sống với chị Phan Thị Mỹ N.
Anh Nguyễn Văn N1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Phan Thị Mỹ N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Văn N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phan Thị Mỹ N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0023652 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |
Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do tự tìm hiểu nên chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 10/8/2009. Sau khi kết hôn, chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 chung sống tại số C, tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến tháng 7/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn N1 không quan tâm gia đình, không phụ kinh tế để cùng chăm lo cho gia đình; không cùng vợ chia sẻ việc chăm sóc gia đình (cụ thể là khi bùng phát dịch Covid-19, con chung tên Nguyễn Thị Thúy D và mẹ ruột của chị Phan Thị Mỹ N cùng bị nhiễm Covid-19, chị Phan Thị Mỹ N phải đi chăm sóc cho mẹ ruột nên nhờ anh Nguyễn Văn N1 chăm sóc cho con chung nhưng anh Nguyễn Văn N1 từ chối vì cho rằng đó là trách nhiệm và là lỗi của gia đình vợ). Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Cuối năm 2021, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trong nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1; bản thân chị Phan Thị Mỹ N và anh Nguyễn Văn N1 không cho nhau cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phan Thị Mỹ N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N1
