|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 31 tháng 5 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công
Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Hương – giáo viên hưu trí
Ông Nguyễn Ngọc Triển – cán bộ hưu trí
Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Bùi Văn T, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1988
Nơi cư trú: thôn C, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn C và bà: Phan Thị T1; Vợ là Mai Thị Khánh H (đã ly hôn); Con: chưa có.Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phan Văn T2, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1990
Nơi cư trú: thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn S và bà: Nguyễn Thị G; Vợ là Triệu Thị D; Có 01 con, sinh năm 2021
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Lê Hồng L, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1972
Nơi cư trú: thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Trinh V (đã chết) và bà: Trần Thị L1 (đã chết); Vợ là Phan Thị M; Có 03 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 45/2013/HSST ngày 26/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Lê Văn L2, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1987
Nơi cư trú: thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn K (đã chết) và bà: Trần Thị H1; Vợ là Phan Thị X; Con: chưa có.
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023 đến ngày 15/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Thạch Gia M1, sinh năm 2001, vắng mặt
- Nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang
- + Chị Lang Thị Ngọc Á, sinh ngày 15/11/2007, vắng mặt
- Người đại diện: ông Lang Văn N, sinh năm 1985 (bố đẻ chị Á)
- Nơi cư trú: thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đak Nông
- + Chị Lương Thị V1, sinh năm 1986, vắng mặt
- Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 05/4/2023, Phan Văn T2, sinh năm 1990 và Lê Văn L2, sinh năm 1987, đều trú tại: xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đi đến quán ăn Đ ở giáp đường Q thuộc địa phận thôn S, xã N - huyện V của Lê Hồng L, sinh năm 1972, trú tại: xã N, huyện V để uống rượu. Tại đây, T2, L2 và L uống rượu với nhau đến khoảng 04 giờ sáng ngày 06/4/2023 thì T2 nảy sinh nhu cầu muốn đi hát karaoke nên rủ L2 mời L đi hát. L2 đồng ý và thống nhất với T2 mọi chi phí phòng hát, thuê nhân viên phục vụ sẽ do T2 và L2 chi trả. Lúc này, do không biết chỗ đặt phòng hát nên T2 hỏi L có đặt được phòng hát không thì L nói: “Để tao gọi cho”, sau đó L gọi điện thoại cho Bùi Văn T, sinh năm 1988, trú tại: xã N, huyện V, bảo Bùi Văn T bố trí cho 01 phòng hát và 03 nữ nhân viên để phục vụ. Do quán The Kafe ở thôn N, xã C, huyện V của gia đình Bùi Văn T có lắp đặt các thiết bị âm thanh, ánh sáng, màn hình, máy chọn bài hát, bàn ghế để làm thành một phòng hát và bản thân có thể gọi được nữ nhân viên đến phục vụ nên Bùi Văn T đồng ý. T gọi điện thoại cho Thạch Gia M1, sinh năm 2001, trú tại: xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang bảo M1 cùng Lang Ngọc Á, sinh ngày 15/11/2007, trú tại: Xã E, huyện C, tỉnh Đăk Nông và Lương Thị V1, sinh năm 1986, trú tại: xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang - là những nữ nhân viên chuyên phục vụ quán hát, hiện đang cùng thuê trọ ở xã C, huyện V, đến quán T4 để phục vụ khách hát thì M1 đồng ý, rồi bảo Á, V1 chuẩn bị đồ để cùng đi đến quán T4.
Sau khi gọi đặt được phòng hát thì L điều khiển xe mô tô BKS: 19L4-8913 của Phan Văn T2 chở T2 và L2 đi đến quán T4 của Bùi Văn T để hát. Đến nơi, L, L2 và Phan Văn T2 cùng đi vào trong phòng hát. Khoảng 10 phút sau thì M1, Á, V1 đi vào trong quán và hát cùng nhóm L, L2, Phan Văn T2. Hát được một lúc thì Phan Văn T2 nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy nên Phan Văn T2 đi đến nói riêng với L và L2: “Làm tý nhỉ”. L và L2 hiểu ý của Phan Văn T2 là muốn rủ L2 và L mua ma túy để cùng nhau sử dụng nên đều đồng ý. Phan T2 tiếp tục nói với L2 và L: “Chơi kẹo, không chơi ke, chơi ke đắt không đủ tiền”. L và L2 hiểu ý của Phan Văn T2 rủ chỉ sử dụng ma túy kẹo vì ma túy ketamine đắt không đủ tiền nên đồng ý và thống nhất với Phan Văn T2 sẽ mua 03 viên ma túy kẹo để sử dụng. Sau khi thống nhất, L2 lấy ra số tiền 1.800.000đ đưa cho L để ứng trước tiền hát và tiền thuê nhân viên phục vụ cho Bùi Văn T, còn sau này hết bao nhiêu tiền thì Phan Văn T2 và L2 sẽ chia nhau thanh toán. L cầm số tiền trên đưa lại cho Bùi Văn T. Khoảng 10 phút sau thì Phan Văn T2 nói với L đến bảo Bùi Văn T lấy cho 03 viên ma túy kẹo để sử dụng thì L đồng ý. Sau đó, Phan Văn T2 cùng L đi đến gặp riêng Bùi Văn T tại quầy pha chế kê ở trong phòng hát. Khi L và L2 đến gặp Bùi Văn T thì lúc này Bùi Văn T đang đứng ở bên trong quầy pha chế. L và Phan Văn T2 đứng ở ghế sô pha kê sát quầy pha chế rồi Phan Văn T2 nói với Bùi Văn T: “Có kẹo không, bán cho anh em ba viên”, thấy Bùi Văn T không trả lời lại thì L nói tiếp “Em lấy cho ba viên kẹo để cho anh em chơi”. Bùi Văn T hiểu ý Phan Văn T2 và L muốn nhờ Bùi Văn T mua hộ ma túy kẹo để mọi người sử dụng, nhưng do không biết gọi ai để hỏi mua ma túy nên Bùi Văn T đáp lại: “Em không gọi được ai, anh em biết ai thì gọi”, nghe Bùi Văn T nói vậy L nói với Bùi Văn T: “Giờ không biết ai mà gọi, mày hộ anh cái”. Lúc này, Phan Văn T2 đứng cạnh đó và nói “Giờ giá thị trường tầm ba trăm năm mươi nghìn”, ý của Phan Văn T2 là giá ma túy kẹo là 350.000đ/1 viên nếu Bùi Văn T bán ma túy thì chỉ được lấy với giá đó. Do lúc này Bùi Văn T không biết chỗ nào để gọi mua ma túy và chưa nhớ ra 03 viên ma túy kẹo mà Bùi Văn T cất giấu tại quầy pha chế từ trước nên Bùi Văn T không trả lời lại L và Phan Văn T2 mà đi ra khỏi phòng. Khoảng 20 phút sau, do vẫn chưa thấy Bùi Văn T bán ma túy cho nên Phan Văn T2 đến gặp riêng L và giục L tiếp tục đến bảo Bùi Văn T bán ma túy cho thì L đồng ý. L đi ra khỏi phòng hát, sang phòng bên cạnh là quán Huyền Vân S1 gặp Bùi Văn T. L nói với Bùi Văn T: “Em có kẹo không, lấy cho anh em chơi đi”. Lúc này, Bùi Văn T nhớ ra 03 viên ma túy kẹo mà Bùi Văn T cất giấu tại quầy pha chế từ trước nên đồng ý và bảo L “Anh cứ vào đi”. L quay vào phòng hát và tiếp tục hát cùng mọi người. Khoảng 10 phút sau, Bùi Văn T đi vào phòng hát lấy ở quầy thanh toán ra 01 túi nilon bên trong chứa 03 viên ma túy kẹo dạng viên nén, hình quả lựu đạn, rồi đi đến chỗ L ngồi, đưa cho L túi nilon chứa 03 viên ma túy kẹo này và nói: “Anh cầm lấy cho anh em chơi”. L cầm túi ma túy kẹo Bùi Văn T đưa, rồi đưa lại túi ma túy này cho M1 và bảo M1 bẻ các viên nén trong túi ra làm đôi. L không nói cho M1 biết các viên nén này là ma túy kẹo và cũng không nói mục đích bẻ đôi các viên nén này ra để làm gì. M1 đồng ý làm theo ý L và bẻ đôi 03 viên ma túy nêu trên thành 06 mảnh nhỏ, rồi đưa lại cho L. L cầm 06 mảnh ma túy M1 đưa rồi chia cho M1, Phan Văn T2, L2, Á và V1 mỗi người 01 mảnh, L giữ lại 01 mảnh rồi sử dụng bằng cách cho vào miệng nuốt. Sau khi được L chia cho 01 mảnh ma túy thì Phan Văn T2, L2, Á biết rõ là ma túy kẹo nên cũng sử dụng bằng cách cho vào miệng nuốt; V1 không muốn sử dụng ma túy kẹo nên sau khi cho mảnh ma túy vào miệng thì V1 nhè ra, vứt xuống sàn nhà rồi lấy chân dẫm nát; M1 mặc dù không biết là ma túy nhưng thấy mọi người đều cho vào miệng nuốt nên cũng làm theo. Sau đó, Phan Văn T2, L, L2 cùng M1, Á và V1 tiếp tục hát và nghe nhạc đến khoảng 06 giờ 55 phút ngày 06/4/2023 thì lực lượng Công an huyện V làm nhiệm vụ, kiểm tra quán The Kafe. Thấy vậy, Bùi Văn T thông báo cho những người trong quán biết nên L, V1, Á, M1 đi ra khỏi quán, rồi V1 và Á bỏ chạy thoát, còn L và M1 bị lực lượng Công an huyện V giữ lại đưa vào bên trong quán T4 để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an huyện V phát hiện các đối tượng có biểu hiện đã sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ các tài sản, đồ vật gồm:
- - Tạm giữ của Bùi Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0972.100.586, điện thoại có số IMEI 353978108737024 và số tiền 1.800.000đ.
- - Tạm giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0966.936.399, điện thoại có số IMEI 355357081414612, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 105 màu xanh đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0961.915.919 (Sim 1), 0392.153.555 (Sim 2); số tiền 4.000.000₫.
- - Tạm giữ của Phan Văn T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 5 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0388.532.851, điện thoại có số IMEI 990002841590944; 01 xe mô tô đã cũ gắn BKS: 19L4-8913.
- - Tạm giữ của L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu hồng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0858.524.878, điện thoại có số IMEI: 35381409565223.
- - Tạm giữ của M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Pro Max màu xám đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0339.891.201, điện thoại có số IMEI: 353893100409037, IMEI2: 353893100452136.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn T ở thôn N, xã C - huyện V. Quá trình khám xét, không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 06/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V tiến hành thu mẫu nước tiểu của Bùi Văn T, Phan Văn T2, Lê Hồng L, Lê Văn L2, Thạch Gia M1, Lang Ngọc Á để phục vụ giám định theo quy định, kết quả test nhanh chất ma túy xác định Phan Văn T2; Lê Văn L2; Lê Hồng L; Thạch Gia M1; Lang Ngọc A dương tính với ma túy MDMA. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra các Quyết định trưng cầu giám định số 204, 205, 206, 207, 208, 209 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V tiến hành giám định mẫu nước tiểu thu của Lê Văn L2, Lê Hồng L, Bùi Văn T, Phan Văn T2, Thạch Gia M1, Lang Ngọc Á nêu trên để xác định trong mẫu nước tiểu của những người này có ma túy không, nếu có thì là loại ma túy gì.
Tại bản kết luận giám định số 989/KLGĐ ngày 13/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Lê Hồng L - SN 1972, trú tại: xã N - huyện V - tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
Tại bản kết luận giám định số 990/KLGĐ ngày 13/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Bùi Văn T – SN 1988, trú tại: xã N - huyện V - tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
Tại bản kết luận giám định số 995/KLGĐ ngày 13/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Phan Văn T2 - SN 1990, trú tại: xã N - huyện V - tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M4 gửi đến giám định.
Tại bản kết luận giám định số 996/KLGĐ ngày 13/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Thạch Gia M1 - SN 2001, trú tại: xã V - huyện V - tỉnh Hậu Giang ký hiệu M5 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 997/KLGĐ ngày 13/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Lang Ngọc Á - SN 2007, trú tại: xã E - huyện C - tỉnh Đắk Nông ký hiệu M6 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1003/KLGĐ ngày 14/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi mẫu nước tiểu thu của Lê Văn L2 – SN : 1987, trú tại: xã N - huyện V - tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục IB, STT 11, Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40, nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu, gồm: 0,0ml mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong kín, trên giáp lai có chữ ký của những người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dâu trong đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh V.
Quá trình điều tra, gia đình Lê Văn L2 cung cấp cho Cơ quan điều tra bệnh án điều trị ngoại trú động kinh của Lê Văn L2.
Ngày 19/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 242, trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc tiến hành giám định pháp y về tâm thần cho Lê Văn L2 để xác định: Bị can Lê Văn L2 có bị bệnh tâm thần không? Nếu có thì là loại bệnh tâm thần gì? Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 06/4/2023, bị can L2 có bị bệnh tâm thần không? Khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi như thế nào? Hiện tại khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bị can L2 như thế nào?.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 54/KLGĐ ngày 08/5/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:
- Lê Văn L2, sinh năm 1987, trú tại thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc bị bệnh Động kinh không có rối loạn tâm thần.
- Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 06/4/2023, Lê Văn L2 bị bệnh Động kinh không có rối loại tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại (tại thời điểm giám định) Lê Văn L2 bị bệnh Động kinh không có rối loạn tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thông báo nội dung các bản kết luận giám định nêu trên cho Bùi Văn T, Phan Văn T2, Lê Hồng L, Lê Văn L2, Thạch Gia M1, Lang Ngọc Á biết. Sau khi được thông báo thì những người này đều đồng ý với các bản kết luận giám định, không ai có ý kiến thắc mắc gì.
Về nguồn gốc số ma túy, Bùi Văn T khai: Vào tối ngày 30/3/2023, Bùi Văn T đi đến khu vực ngã ba, lối rẽ vào UBND xã C thì gặp và mua được 05 viên ma túy kẹo với giá 250.000đ/1 viên, tổng 05 viên hết 1.250.000đ của một nam thanh niên tên T3 khoảng 20 tuổi (T không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ của người này ở đâu). Sau khi mua được ma túy, Bùi Văn T mang về sử dụng hết 02 viên, còn 03 viên thì Bùi Văn T cất giấu trong quán The Kafe để khi nào có nhu cầu thì sử dụng tiếp. Đến sáng ngày 06/4/2023 khi Phan Văn T2, Lê Hồng L và Lê Văn L2 có nhu cầu muốn sử dụng ma túy tại quán T4 thì Bùi Văn T đã bán lại 03 viên ma túy kẹo cho những người này với giá thỏa thuận là 350.000đ/viên, sau đó Phan Văn T2, Lê Hồng L và Lê Văn L2 đã sử dụng 03 viên ma túy mua của Bùi Văn T để tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại quán T4 thì bị Công an huyện V làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện và bắt giữ như đã nêu trên. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng chưa xác định được người đã bán ma túy cho Bùi Văn T là ai, ở đâu nên tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Thạch Gia M1 là người được Bùi Văn T, Phan Văn T2, L, L2 tổ chức cho sử dụng ma túy tại phòng hát quán T4 ngày 06/4/2023 và là người trực tiếp bẻ đôi 03 viên ma túy kẹo thành 06 mảnh ma túy. Quá trình điều tra xác định khi Phan Văn T2, Lê Hồng L và Bùi Văn T giao dịch mua bán ma túy với nhau thì M1 đang hát và rót bia phục vụ trong phòng hát, trong phòng lúc này ánh sáng tối, âm thanh nhạc to nên M1 không để ý và không biết được nội dung giao dịch mua bán ma túy giữa Bùi Văn T với Phan Văn T2 và L. Khi L đưa 03 viên dạng nén hình quả lựu đạn cho M1 và bảo M1 bẻ đôi từng viên thì M1 không biết đó là các viên ma túy và không biết mục đích của L bảo M1 bẻ đôi các viên này để làm gì. Do là nhân viên được thuê phục vụ khách hát nên khi L bảo M1 bẻ đôi từng viên thì M1 phải làm theo. Sau khi, bẻ đôi từng viên thì M1 đã đưa lại cho L và thấy L đưa cho mỗi người có mặt trong phòng một mảnh, rồi M1 thấy mọi người trong phòng đều cho vào miệng nuốt nên M1 cũng làm theo, sau khi nuốt vào trong người được một lúc thì M1 có cảm giác phê pha, lúc này M1 mới nhận thức được 03 viên dạng nén hình quả lựu đạn mà L đưa cho M1 là ma túy. Bản thân M1 không rủ rê, lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, không có ý định giúp sức cho Phan Văn T2, L, L2 trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở đối với M1.
Đối với Lang Ngọc Á là người trực tiếp sử dụng trái phép ma túy tổng hợp dạng kẹo gồm các chất ma túy MDMA và Ketamine do L đưa. Quá trình điều tra xác định Á không rủ rê, lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, không giúp sức gì cho Phan Văn T2, L và L2 trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Á. Tuy nhiên, hành vi của Á đã vi phạm Khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên ngày 20/6/2023 Công an huyên V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Á về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức Cảnh cáo.
Đối với Lương Thị V1 là người được L đưa cho 01 mảnh ma túy kẹo để sử dụng. Quá trình điều tra V1 khai do không muốn sử dụng ma túy kẹo nên V1 không sử dụng mảnh ma túy L đưa mà đã vứt bỏ mảnh ma túy này xuống sàn nhà rồi dùng chân dẫm nát, bản thân Vang không rủ rê, lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, không giúp sức gì cho Phan Văn T2, L và L2 trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý, mà chỉ giáo dục nhắc nhở đối với V1 là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Pro Max màu xám bên trong lắp sim thuê bao 0339.891.201 tạm giữ của Thạch Gia M1, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của M1, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho M1 chiếc điện thoại nêu trên. Nhận lại tài sản, M1 không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen bên trong có lắp sim thuê bao 0972.100.586 tạm giữ của Bùi Văn T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Bùi Văn T, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho Bùi Văn T nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với số tiền 1.800.000đ tạm giữ của Bùi Văn T. Quá trình điều tra xác định số tiền này ban đầu là tiền L2 đưa cho L để L đưa cho Bùi Văn T để tạm ứng trước tiền phòng hát và tiền thuê nhân viên phục vụ cho Bùi Văn T. Tuy nhiên, sau khi Bùi Văn T bán trái phép 03 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo gồm các chất ma túy MDMA và Ketamine cho Phan Văn T2, L2 và L để những người này sử dụng và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép tại quán The Kafe do Bùi Văn T quản lý thì số tiền này được Bùi Văn T, Lê Hồng L, Phan Văn T2 và L2 xác định là tiền do L2 tạm ứng trước để trả tiền mua ma túy sử dụng, tiền thuê nhân viên phục vụ và tiền thuê phòng hát để sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, số tiền 1.800.000đ nêu trên được xác định là tiền liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên cần tịch thu để sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định.
Đối với số tiền 4.000.000đ và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen, bên trong lắp sim thuê bao 0966.936.399; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 105 màu xanh, bên trong lắp sim thuê bao 0961.915.919 (Sim 1) và 0392.153.555 (Sim 2) tạm giữ của Lê Hồng L. Quá trình điều tra xác định số tiền và 02 chiếc điện thoại di động, 03 sim thuê bao nêu trên là tài sản hợp pháp của L, không sử dụng vào việc phạm pháp nên cần trả lại cho L, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 5 màu đen bên trong lắp sim thuê bao 0388.532.851 và chiếc xe mô tô BKS: 19L4-8913 tạm giữ của Phan Văn T2. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động, sim thuê bao và chiếc xe mô tô nêu trên đều là tài sản hợp pháp của Phan Văn T2. Chiếc điện thoại và sim thuê bao do T2 mua từ trước nhưng không nhớ cụ thể mua ở đâu và vào thời gian nào; còn chiếc xe mô tô do T2 mua của bà Phạm Thị H2 – sinh năm 1965, ở xã Đ - huyện T - tỉnh Phú Thọ từ năm 2009, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ (toàn bộ giấy tờ xe hiện vẫn đứng tên bà H2). T2 không sử dụng chiếc điện thoại di động, sim thuê bao và chiếc xe mô tô nêu trên vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho T2 theo quy định, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu hồng, bên trong lắp sim thuê bao 0858.524.878 tạm giữ của Lê Văn L2. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của L2, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho L2 theo quy định, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với toàn bộ mẫu vật và bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKSVT ngày 15 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố Lê Hồng L, Phan Văn T2, Lê Văn L2 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố Bùi Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với các bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Lê Hồng L, Phan Văn T2, Lê Văn L2 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 251, Điều 55 bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn T.
Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58, Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn T, Lê Hồng L, Phan Văn T2, Lê Văn L2.
Áp dụng: khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Hồng L, Lê Văn L2.
Xử phạt:
Bùi Văn T từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt là 14 năm đến 14 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2023.
Phan Văn T2 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày 06/4/2023.
Lê Hồng L từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày 06/4/2023.
Lê Văn L2 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày 06/4/2023.
Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị Bùi Văn T, Lê Hồng L, Phan Văn T2, Lê Văn L2 khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thừa nhận đã có hành mua bán ma túy, tổ chức cho người khác sử dụng vào rạng sáng ngày 06/4/2023 tại quán T4 tại thôn N, xã C, huyện V như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng và không có lời bào chữa nào khác.
Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của chính các bị cáo; lời khai, bản kiểm điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; tang vật chứng thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Lê Hồng L, Phan Văn T2, Lê Văn L2 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Bùi Văn T phạm hai tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào.....
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Đối với 02 người trở lên
- Đối với người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ..”.
Điểm c Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy .................................................
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
................................................................................................................................
c) Đối với 02 người trở lên;"
3. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo vì ham lợi cho bản thân, ham vui, hưởng lạc mà thực hiện hành vi bán ma túy, tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, làm cho người sử dụng ma túy lệ thuộc vào chất ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe, có lối sống không lành mạnh, trái pháp luật và thuần phong, truyền thống dân tộc. Các bị cáo tổ chức cho 02 người trở lên sử dụng trái phép ma túy, trong đó có cả phụ nữ, người chưa đủ 18 tuổi nên tính chất mà mức độ phạm tội rất nghiêm trọng. Mặc dù các hành vi liên quan đến ma tuý đã được tuyên truyền giáo dục nhiều, song các tội phạm trên cũng chưa giảm, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Khi xem xét hình phạt đối với các bị cáo, HĐXX đã cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Tất cả các bị cáo sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo vì ham vui, nhất thời phạm tội nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Bị cáo Phan Văn T2 là những người giữ vai trò chính, gợi ý, khởi xướng để buổi sử dụng ma túy được diễn ra; bị cáo phải chịu mức án nghiêm khắc, cao hơn các bị cáo còn lại trong vụ án.
Bị cáo Lê Hồng L, Lê Văn L2 tham gia với vai trò đồng phạm tích cực; L2 trực tiếp góp số tiền mặt 1.800.000đ để mua ma túy; Lân trực tiếp cùng với Phan Văn T2 giao dịch, mua ma túy của Bùi Văn T. Tuy nhiên L2 bị bệnh động kinh, có bố đẻ là người có công được tặng thưởng huân, huy chương; bị cáo L có công trong việc hợp tác điều tra phá án hình sự với Cơ quan CSĐT công an tỉnh V. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự. Do vậy chỉ cần xử phạt các bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt, tuy nhiên bị cáo L có nhân thân xấu nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo L2.
Bị cáo Bùi Văn T là đồng phạm, thực hiện vai trò giúp sức đối với tội Tổ chức sử dụng ma túy; đã cung cấp địa điểm, tạo điều kiện thuận lợi để các bị cáo khác tổ chức sử dụng ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn bị truy tố thêm tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt đối với mỗi tội cũng đủ để dăn đe phòng ngừa.
4. Khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,.......... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,.......... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
5. Về nguồn gốc số ma túy, Bùi Văn T khai: Vào tối ngày 30/3/2023, Bùi Văn T đi đến khu vực ngã ba, lối rẽ vào UBND xã C thì gặp và mua được 05 viên ma túy kẹo với giá 250.000đ/1 viên, tổng 05 viên hết 1.250.000đ của một nam thanh niên tên T3 khoảng 20 tuổi (T không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ của người này ở đâu). Sau khi mua được ma túy, Bùi Văn T mang về sử dụng hết 02 viên, còn 03 viên thì Bùi Văn T cất giấu trong quán The Kafe để khi nào có nhu cầu thì sử dụng tiếp. Đến sáng ngày 06/4/2023 khi Phan Văn T2, Lê Hồng L và Lê Văn L2 có nhu cầu muốn sử dụng ma túy tại quán T4 thì Bùi Văn T đã bán lại 03 viên ma túy kẹo cho những người này với giá thỏa thuận là 350.000đ/viên, sau đó Phan Văn T2, Lê Hồng L và Lê Văn L2 đã sử dụng 03 viên ma túy mua của Bùi Văn T để tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại quán T4 thì bị Công an huyện V làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện và bắt giữ như đã nêu trên. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng chưa xác định được người đã bán ma túy cho Bùi Văn T là ai, ở đâu nên cần tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
6. Đối với Thạch Gia M1 là người được Bùi Văn T, Phan Văn T2, L, L2 tổ chức cho sử dụng ma túy tại phòng hát quán T4 ngày 06/4/2023 và là người trực tiếp bẻ đôi 03 viên ma túy kẹo thành 06 mảnh ma túy. M1 không biết đó là các viên ma túy và không biết mục đích của L bảo M1 bẻ đôi các viên này để làm gì, chỉ sau khi nuốt vào trong người được một lúc thì M1 có cảm giác phê pha, lúc này M1 mới nhận thức được 03 viên dạng nén hình quả lựu đạn mà L đưa cho M1 là ma túy. Bản thân M1 không rủ rê, lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, không có ý định giúp sức cho Phan Văn T2, L, L2 trong việc tổ chức sử dụng chất ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở đối với M1 là phù hợp.
Đối với Lang Ngọc Á là người trực tiếp sử dụng trái phép ma túy tổng hợp dạng kẹo gồm các chất ma túy MDMA và Ketamine do L đưa. Quá trình điều tra xác định Á không rủ rê, lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, không giúp sức gì cho Phan Văn T2, L và L2 trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Á. Tuy nhiên, hành vi của Á đã vi phạm Khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên ngày 20/6/2023 Công an huyên V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Á về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
Đối với Lương Thị V1 là người được L đưa cho 01 mảnh ma túy kẹo để sử dụng. Quá trình điều tra V1 khai do không muốn sử dụng ma túy kẹo nên V1 không sử dụng mảnh ma túy L đưa mà đã vứt bỏ mảnh ma túy này xuống sàn nhà rồi dùng chân dẫm nát, bản thân Vang không rủ rê, lôi kéo ai sử dụng trái phép chất ma túy, không giúp sức gì cho Phan Văn T2, L và L2 trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý, mà chỉ giáo dục nhắc nhở đối với V1 là phù hợp.
7. Về vật chứng của vụ án
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Pro Max màu xám bên trong lắp sim thuê bao 0339.891.201 tạm giữ của Thạch Gia M1, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của M1, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho M1 chiếc điện thoại nêu trên. Nhận lại tài sản, M1 không có yêu cầu, đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen bên trong có lắp sim thuê bao 0972.100.586 tạm giữ của Bùi Văn T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Bùi Văn T, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho Bùi Văn T nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với số tiền 1.800.000đ tạm giữ của Bùi Văn T. Quá trình điều tra xác định số tiền này ban đầu là tiền L2 đưa cho L để L đưa cho Bùi Văn T để tạm ứng trước tiền phòng hát và tiền thuê nhân viên phục vụ cho Bùi Văn T. Tuy nhiên, sau khi Bùi Văn T bán trái phép 03 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo gồm các chất ma túy MDMA và Ketamine cho Phan Văn T2, L2 và L để những người này sử dụng và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép tại quán The Kafe do Bùi Văn T quản lý thì số tiền này được Bùi Văn T, Lê Hồng L, Phan Văn T2 và L2 xác định là tiền do L2 tạm ứng trước để trả tiền mua ma túy sử dụng, tiền thuê nhân viên phục vụ và tiền thuê phòng hát để sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo đều nhất trí đề nghị sung ngân sách nhà nước. Vì vậy, số tiền 1.800.000₫ cần tịch thu để sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định.
Đối với số tiền 4.000.000đ và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen, bên trong lắp sim thuê bao 0966.936.399; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 105 màu xanh, bên trong lắp sim thuê bao 0961.915.919 (Sim 1) và 0392.153.555 (Sim 2) tạm giữ của Lê Hồng L. Quá trình điều tra xác định số tiền và 02 chiếc điện thoại di động, 03 sim thuê bao nêu trên là tài sản hợp pháp của L, không sử dụng vào việc phạm pháp nên cần trả lại cho L, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 5 màu đen bên trong lắp sim thuê bao 0388.532.851 và chiếc xe mô tô BKS: 19L4-8913 tạm giữ của Phan Văn T2. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động, sim thuê bao và chiếc xe mô tô nêu trên đều là tài sản hợp pháp của Phan Văn T2. Chiếc điện thoại và sim thuê bao do T2 mua từ trước nhưng không nhớ cụ thể mua ở đâu và vào thời gian nào; còn chiếc xe mô tô do T2 mua của bà Phạm Thị H2 – sinh năm 1965, ở xã Đ - huyện T - tỉnh Phú Thọ từ năm 2009, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ (toàn bộ giấy tờ xe hiện vẫn đứng tên bà H2). T2 không sử dụng chiếc điện thoại di động, sim thuê bao và chiếc xe mô tô nêu trên vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho T2 theo quy định, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu hồng, bên trong lắp sim thuê bao 0858.524.878 tạm giữ của Lê Văn L2. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của L2, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho L2 theo quy định, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với toàn bộ mẫu vật và bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
8. Về án phí: Tất cả các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Phan Văn T2, Lê Hồng L, Lê Văn L2, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phan Văn T2, Lê Hồng L, Lê Văn L3, Bùi Văn T.
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 251; Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn T.
Áp dụng: khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Hồng L, Lê Văn L2.
3. Xử phạt
Phan Văn T2 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2023
Lê Hồng L 07 năm 03 tháng từ, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2023
Lê Văn L2 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/4/2023 đến ngày 15/4/2023.
Bùi Văn T 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc T phải chấp hành 14 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2013
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: số tiền 1.800.000₫.
Trả lại cho Bùi Văn T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen bên trong có lắp sim thuê bao 0972.100.586; nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án dân sự.
Trả lại cho Lê Hồng L: số tiền 4.000.000đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen, bên trong lắp sim thuê bao 0966.936.399; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 105 màu xanh, bên trong lắp sim thuê bao 0961.915.919 (Sim 1) và 0392.153.555 (Sim 2); nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án dân sự.
Trả lại cho Phan Văn T2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 5 màu đen bên trong lắp sim thuê bao 0388.532.851; 01 chiếc xe mô tô BKS: 19L4-8913; nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án dân sự.
Trả lại cho Lê Văn L2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu hồng, bên trong lắp sim thuê bao 0858.524.878; nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án dân sự.
Tịch thu tiêu hủy: Đối với toàn bộ mẫu vật và bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định.
(vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc).
5. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
Các bị cáo Phan Văn T2, Lê Hồng L, Lê Văn L2, Bùi Văn T. Mỗi bị cáo phải chịu nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thành Công |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Trường phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
