Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN THỚI LAI

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HSST

Ngày: 13/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Thanh Khiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Tấn Lạc
  2. Bà Trần Thị Minh Hiền

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Võ Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang; ông Trần Quốc Bảo- Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Ngô Phương T (tên gọi khác: B), sinh ngày 17 tháng 01 năm 1998; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn V, sinh năm 1973 (còn sống) và bà Võ Phương L, sinh năm 1975 (còn sống); A, chị, em ruột: có 01 người: sinh năm 1994; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T. Có mặt tại phiên tòa

2. Đoàn Lê Ô S, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1994; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: số nhà I, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1971 (còn sống) và bà Lê Thị P, sinh năm 1973 (mất); A, chị, em ruột: có 03 người: lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1997; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T. Có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1971. Đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vào lúc 10 giờ 00 phút, ngày 22/8/2024, phòng trực ban Công an thành phố C có tiếp nhận tố giác của quần chúng nhân dân báo tin về việc có 01 nam, 01 nữ khoảng hơn 20 tuổi ở xã T, huyện T sử dụng xe mô tô biển số 95H1-348.51 đi ra hướng cầu Đ, xã T, huyện T mua ma túy để sử dụng và bán lại cho các đối tượng khác. Qua xác minh, lúc 15 giờ 30 phút, ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét phương tiện và người Ngô Phương T. Đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ và Đoàn Lê Ô S. Đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ tại cổng nhà trọ T2, thuộc ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ. Qua khám xét, phát hiện và thu giữ: 01 đoạn ống hút nhựa không màu hàn kín chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy) T đang cầm trên tay rồi bỏ gói ma túy xuống đất chỗ T đứng nên lực lượng tiến hành thu giữ và lập biên bản niêm phong; 01 xe mô tô hiệu Novo BKS: 95H1-348.51; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung số seri: R58JB5002VW; 01 ĐTDĐ hiệu OPPO CEO700. Sau đó chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thụ lý theo thẩm quyền (bút lục: 107).

Tại bản kết luận giám định số: 252/KL-KTHS ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong 01 (một) đoạn ống hút gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,1327gam (Bút lục 36).

Qua làm việc bị cáo Ngô Phương T và bị cáo Đoàn Lê Ô S khai nhận: Do muốn sử dụng ma túy nên vào chiều ngày 22/8/2024, bị cáo T đang ở nhà thuê ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ nhắn tin zalo cho bạn là bị cáo Đoàn Lê Ô S còn vốn không mua đồ chơi (nghĩa là mua ma túy đã sử dụng) thì bị cáo S đồng ý nên T và S thống nhất mỗi người hùn 100.000đồng, tổng cộng là 200.000đồng, T tiếp tục nhắn tin zalo cho người đàn ông tên M (không rõ họ tên đầy đủ và chỗ ở cụ thể) để hỏi mua ma túy. M hẹn T chỗ gần cầu Đ thuộc xã T giao ma túy. Sau khi nhắn tin xong, T và S đã xóa tin nhắn. Siêu điều khiển xe mô tô biển số 95H1-348.51 đến rước T, lúc đi trên xe thì S đưa T 100.000đồng, T kêu S chở T đến cầu Đ thuộc xã T trải rồi quẹo phải và S đậu xe cách điểm hẹn với Mấp khoảng 400m đợi T. Bị cáo T đi bộ vào thì gặp người đàn ông tên M chạy xe đến đậu ở bụi tre, T đưa M số tiền 200.000đồng và nhận 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín 02 đầu bên trong có chứa ma túy đá, bị cáo T lấy cầm trên tay và đi bộ đến xe của bị cáo S, bị cáo S điều khiển xe chở T tìm nhà trọ thuê để sử dụng, khi S điều khiển xe đến

trước cửa nhà trọ T2 thuộc ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ thì bị lực lượng Công an bất ngờ kiểm tra, do T sợ quá nên bỏ gói ma túy mua trước đó xuống đất nơi T đứng nên lực lượng Công an tiến hành thu giữ, lập biên bản mời T và S về cơ quan công an làm việc (bút lục: 127-138; 143-151). Đối với người tên M Ngô Phương T khai có bán ma túy cho Ngô Phương T và Đoàn Lê Ô S, do Ngô Phương T và Đoàn Lê Ô S khai không đầy đủ về thông tin, đặc điểm nhận dạng, nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Về vật chứng: đối với xe mô tô biển số: 95H1-348.51, qua tra cứu xác định người đứng tên sở hữu là ông Nguyễn Hoàng T1 mua năm 2018 sử dụng đến năm 2020 bán lại cho người đàn ông lạ mặt, khi bán không làm hợp đồng chỉ giao xe và giấy đăng ký xe. Hiện tại T1 không yêu cầu gì đối với xe trên. Năm 2021 ông Đoàn Văn Đ (cha Ô S) mua lại xe trên từ một người đàn ông lạ mặt và sử dụng, ngày 22/8/2024 bị cáo Ô S lấy xe nói đi công việc, ông Đ không biết Ô S sử dụng xe trên đi mua ma túy, Đậm xin được nhận lại xe trên làm phương tiện đi lại (bút lục: 121-122; 125-126). Đối với các vật chứng gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định và các vật chứng khác được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai chờ xử lý. Riêng đĩa ghi âm ghi hình buổi hỏi cung bị can lưu hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 52/CT- VKSTL ngày 20/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai truy tố các bị cáo Ngô Phương T, bị cáo Đoàn Lê Ô S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Phương T, bị cáo Đoàn Lê Ô S. Kiểm sát viên cho rằng hành vi của bị cáo Ngô Phương T và bị cáo Đoàn Lê Ô S là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,1327gam. Do đó hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trên cơ sở đó, kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Phương T và bị cáo Đoàn Lê Ô S mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam. Và đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong theo kết luận số 252 ngày 28/8/2024 của Phòng K Công an thành phố C bên ngoài có đóng dấu tròn của Phòng K Công an thành phố C, cán bộ niêm phong Đặng Thúy H, bên trong chứa 0,1070gam Methamphetamine còn lại sau giám định; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung số seri: R58JB5002VW và 01 điện thoại di động hiệu OPPO CEO700. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Novo biển kiểm soát: 95H1-348.51 cho ông Đoàn Văn Đ do ông Đ không biết bị cáo Ô S1 dùng vào việc phạm tội.

Bị cáo Ngô Phương T và bị cáo Đoàn Lê Ô S vẫn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng, tại phiên tòa bị cáo chỉ xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo thấy ăn năn hối cải.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo Ngô Phương T thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo thấy hối cải.

Bị cáo Đoàn Lê Ô S thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình là sai, bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi được các bị cáo thừa nhận và trong quá trình tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai phê chuẩn nên về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa ngày hôm nay, qua lời khai nhận của bị cáo T, bị cáo Ô S1, đối chiếu với các chứng cứ và tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố đã chứng minh được rằng, bị cáo Ngô Phương T và bị cáo Đoàn Lê Ô S có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị bắt quả tang cùng tang vật vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 22/8/2024. Qua kết quả giám định thì số lượng ma túy thu giữ được của bị cáo bị cáo T, bị cáo Ô S1 cùng thống nhất hùn tiền lại mua để sử dụng có khối lượng 0,1327gam là Methamphetamine.

[3] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo cũng biết rõ, ma túy là chất cấm tàng trữ nếu không được sự cho phép của Cơ quan có thẩm quyền nhưng vì phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà các bị cáo bất chấp pháp luật. Do đó, hành vi của bị cáo Ngô Phương T và bị cáo Đoàn Lê Ô S đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu đối chiếu với quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng nên khi lượng hình Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là phù hợp, cũng đủ sức

răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Về tình tiết tăng nặng không có.

[5] Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một xã hội văn minh, mọi người phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, xem pháp luật là thước đo chuẩn mực của đời sống xã hội nhưng bị cáo không thực hiện theo tinh thần, chủ trương đó mà làm ngược lại, tàng trữ trái phép chất ma túy. Các bị cáo cũng biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật nghiêm cấm. Nên đối với bị cáo cần phải có hình phạt nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng như đã phân tích tại Mục [4].

[6] Đối với tang vật trong vụ án gồm: 01 gói niêm phong theo kết luận số 252 ngày 28/8/2024 của Phòng K Công an thành phố C bên ngoài có đóng dấu tròn của Phòng K Công an thành phố C, cán bộ niêm phong Đặng Thúy H, bên trong chứa 0,1070gam Methamphetamine còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật. Đối với xe mô tô biển số: 95H1-348.51, qua tra cứu xác định người đứng tên sở hữu là ông Nguyễn Hoàng T1 mua năm 2018 sử dụng đến năm 2020 bán lại cho người đàn ông lạ mặt, khi bán không làm hợp đồng chỉ giao xe và giấy đăng ký xe. Hiện tại T1 không yêu cầu gì đối với xe trên. Năm 2021 ông Đoàn Văn Đ (cha Ô S) mua xe trên từ một người đàn ông lạ mặt và sử dụng, ngày 22/8/2024 Ô S lấy xe nói đi công việc, ông Đ không biết Ô S sử dụng xe trên đi mua ma túy, bị cáo dùng vào việc phạm tội nhưng ông Đ không biết và không giao xe cho bị cáo, nên cần trả xe mô tô này cho ông Đ là phù hợp pháp luật. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung số seri: R58JB5002VW và 01 điện thoại di động hiệu OPPO CEO700 các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tên M do chưa xác định được nhân thân người này nên kiến nghị Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi và liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Toà án.

Tuyên bố: bị cáo Ngô Phương T, bị cáo Đoàn Lê Ô S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Ngô Phương T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/8/2024.

Xử phạt: bị cáo Đoàn Lê Ô S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/8/2024.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong theo kết luận số 252 ngày 28/8/2024 của Phòng K Công an thành phố C bên ngoài có đóng dấu tròn của Phòng K Công an thành phố C, cán bộ niêm phong Đặng Thúy H, bên trong chứa 0,1070gam Methamphetamine còn lại sau giám định; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung số seri: R58JB5002VW và 01 điện thoại di động hiệu OPPO CEO700. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Novo biển kiểm soát: 95H1-348.51 đã qua sử dụng cho ông Đoàn Văn Đ tại Cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (theo quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKSTL ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai).

Về án phí: bị cáo Ngô Phương T, bị cáo Đoàn Lê Ô S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thới Lai;
  • - NTG-CA huyện Thới Lai;
  • - Thi hành án huyện Thới Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Lê Thanh Khiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HSST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 50/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 03 bị cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger