Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Nhum
  • Thẩm phán: Ông Bùi Văn Bình
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Dũng
  • Bà Lương Thị Diệu
  • Ông Trương Thanh Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đương - Kiểm sát viên

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thanh H (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 05 tháng 3 năm 1983 tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: ấp E, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành L, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Lê Thị G, sinh năm 1957; có vợ Nguyễn Thị Hồng N (đã ly hôn) và 01 con tên Lê Dĩ H1, sinh năm 2006; bị cáo có 08 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 03/01/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Văn Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 2000; nơi cư trú: thôn E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị G, sinh năm 1957; nơi cư trú: ấp E, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 ngày 03/01/2024, Lê Thanh H đang ngồi phía sau nhà tại ấp E, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước uống rượu một mình thì Nguyễn Hoàng L1 điều khiển xe mô tô biển số 93H8-2851 chở Lê Thành S (em trai của H) về nhà. Khi đến nhà anh S, L1 đi vào khu vực bếp nhà gỗ trong nhà anh S. Lúc này, anh L1 thấy H đang ngồi uống rượu một mình thì anh L1 chửi H “thằng chó, thằng chó” rồi nằm xuống võng lấy điện thoại ra xem. Bực tức do bị anh L1 chửi nên H đi vào trong bếp lấy 01 con dao rựa dài 79,5cm rồi đi đến chỗ anh L1 đang nằm. H cầm rựa bằng 02 tay chém liên tiếp 03 đến 04 nhát từ trên xuống vào vùng mặt, đầu và bàn tay trái của anh L1 gây thương tích. Nghe thấy tiếng động, bà Lê Thị G (mẹ ruột của H, S) ở nhà trên đi xuống thấy H đang cầm con dao rựa, còn anh L1 bị thương tích ở mặt nên bà G tước dao rựa của H, kéo H ra rồi vứt con dao ra phía sau nhà. Sau đó, anh L1 được đưa đi cấp cứu, còn H đến Công an xã H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 47/KLTTCT-TTPY ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh B xác định thương tích của Nguyễn Hoàng L1 như sau:

- Kết quả khám giám định: Sẹo dọc chẩm trái kích thước 6 x 0,2 cm gọn, mềm; Sẹo đầu trong khung mày mắt trái kích thước 3 x 0,1 cm gọn, mềm; Sẹo mi dưới mắt trái đến xương hàm dưới trái kích thước 13 x 0,3 cm gọn, mềm, lõm, hở mi mắt trái; Sẹo mũi - má trái kích thước 9 x 0,2 cm gọn, mềm; Sẹo môi dưới xuống cằm phải kích thước 6 x 0,1 cm gọn, mềm; Sẹo bờ dưới - trước hàm phải hình “Y” kích thước 10 x 0,5 cm và 5 x 0,2 cm trên nền còn đóng vảy, đang lành sẹo; Vết thương ngón IV bàn tay trái đứt gân duỗi đã phẫu thuật khâu nối gân, 02 sẹo mặt mu khớp đốt 1 ngón IV bàn tay trái kích thước 3 x 0,1 cm gọn, mềm và sẹo dọc kẻ ngón IV kích thước 2,5 x 0,2 gọn, mềm, mất gấp ngón IV; Sẹo đốt 3 ngón V kích thước 4 x 0,2 cm bầm tím đến đốt 3 (móng ngón tay), mất gấp ngón V.

- Kết quả cận lâm sàng: Gãy xương hàm dưới bên trái; gãy thành xoang hàm trái; gãy bờ trên hốc mắt trái; gãy xương đốt 2 ngón V bàn tay trái, hiện còn dụng cụ kết hợp xương.

- Kết luận: Các tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động trực tiếp gây nên và tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng L1 tại thời điểm giám định là 43% (bốn mươi ba phần trăm).

Bản kết luận giám định về ADN số 800/KL-KTHS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C kết luận: Trên lưỡi dao có ADN của Nguyễn Hoàng L1; Trên cán dao có ADN người. Phân tích được kiểu gen không đủ điều kiện truy nguyên; Các dấu vết thu tại hiện trường có cùng một kiểu gen nam giới và trùng với kiểu gen của Nguyễn Hoàng L1. Với những vết thương và thương tích trong giấy chứng nhận thương tích, nếu không kịp thời cấp cứu cho bị hại Nguyễn Hoàng L1 sẽ dẫn đến bệnh nhân bị sốc và mất máu nhiều dẫn đến tử vong.

Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 150/KL-VPYTW ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B – Bộ Y kết luận đối với bị can Lê Thanh H như sau:

  • - Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần vừa (F71-ICD.10).
  • - Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự Lê Thanh H bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS-P2 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên bản Cáo trạng số 45/CT-VKS-P2 ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 07 đến 08 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Lê Thanh H đã bồi thường số tiền 70.000.000 đồng cho bị hại; bị hại và bị cáo thỏa thuận bị cáo bồi thường thêm số tiền 130.000.000 đồng nên cần ghi nhận.

Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước về tội danh, điều khoản và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết người phạm tội tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về phần hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo bị bệnh chậm phát triển tâm thần vừa hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên mức án mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm có cơ hội hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và đưa vụ án ra xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng xác định bà Lê Thị G là người làm chứng, tuy nhiên ngoài chứng kiến tội phạm bà G còn là người đã bỏ tiền ra bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của bà G là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bà.

[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại và lời khai người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích, kết luận giám định pháp y về AND, kết quả thực nghiệm điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ được tranh tụng công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:

Do bực tức vì bị anh Nguyễn Hoàng L1 chửi nên bị cáo H đã lấy dao rựa chém liên tiếp khoảng 03 đến 04 nhát vào mặt, đầu anh L1 trong lúc anh L1 đang nằm võng với tư thế từ trái qua phải, từ trên xuống gây thương tích 43%. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình chém anh L1 lúc không thể chống trả là nguy hiểm, có thể dẫn đến việc anh L1 bị tử vong nhưng vẫn cố tình thực hiện. Việc bị hại không chết là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo và do được đưa đi cấp cứu kịp thời.

[3] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo hoàn toàn nhận thức được rằng việc dùng rựa chém vào mặt, vùng đầu của bị hại có thể dẫn đến nguy hiểm về tính mạng của bị hại và bị cáo phải đối mặt với việc xử lý của cơ quan chức năng nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Xuất phát từ việc nhỏ nhặt mà bị cáo đã vô cớ dùng hung khí nguy hiểm là rựa chém vào mặt, vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể có khả năng dẫn đến chết người. Việc bị hại không chết như đã nhận định trên là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, do đó bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra bị cáo cho rằng bị hại chửi mình (còn bị hại cho rằng không có chửi và cũng không có mâu thuẫn với bị cáo) nhưng cho dù bị hại có chửi bị cáo thì cũng không đến mức bị cáo dùng hung khí nguy hiểm chém bị hại, do đó hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội giết người với tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” tại điểm n khoản 1 Điều 123 là đúng quy định. Vì vậy, Cáo trạng số 45/CT-VKS-P2 ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã sử dụng rựa là loại hung khí nguy hiểm để tấn công bị hại. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Mặc dù, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giết người nên cần phải có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Quá trình thực hiện tội phạm, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bản thân bị cáo bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có ba tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để cho thấy sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đời sống xã hội.

[6] Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 70.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường thêm 130.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên cần ghi nhận.

Bà Lê Thị G là mẹ bị cáo đã bồi thường cho bị hại 70.000.000 đồng nhưng bà G không yêu cầu bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Vật chứng vụ án:

  • - Đối với xe mô tô biển số 93H8-2851 thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị Tuyết M, không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà Hoàng Thị Tuyết M (mẹ của Nguyễn Hoàng L1) là đúng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với 01 con dao rựa dài 79,5cm lưỡi bằng kim loại dài 24cm, cán bằng tre hình trụ tròn, đường kính 3,5cm (niêm phong); 01 chiếc võng bằng vải màu xanh; 01 mảnh răng dài 04cm; 01 cái quần thun dài màu đen bằng vải; 01 áo thun ngắn tay bằng vải màu xám trên áo có kẻ sọc màu trắng (niêm phong) là hung khí bị cáo dùng để phạm tội cũng như không còn gia trị sử dụng, bà Nguyễn Thị G1, bị cáo và bị hại không yêu cầu lấy lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần, cụ thể: Sau khi phạm tội bị cáo ra Công an xã làm việc nên không thể xác định bị cáo tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì hành vi phạm tội của bị cáo đã bị bà G1 và nhiều người dân phát hiện, can ngăn chứ không phải từ lời khai của bị cáo mới biết được hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước chỉ đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 50, Điều 54 và Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

    Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Giết người” (phạm tội chưa đạt).

    Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 01 năm 2024.

  2. Áp dụng Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các điều 585, 590 của Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Lê Thanh H, bà Lê Thị G và bị hại Nguyễn Hoàng L1,

    Buộc bị cáo Lê Thanh H có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoàng L1 số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao rựa dài 79,5cm lưỡi bằng kim loại dài 24cm, cán bằng tre hình trụ tròn, đường kính 3,5cm (niêm phong); 01 chiếc võng bằng vải màu xanh; 01 mảnh răng dài 04cm; 01 cái quần bằng vải thun màu đen (niêm phong); 01 áo thun ngắn tay bằng vải màu xám trên áo có kẻ sọc màu trắng (niêm phong).

    (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0000396, quyển số 0008 giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước ngày 30/10/2024).

  4. Áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

    Bị cáo Lê Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC, VKSNDCC tại TPHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước;
  • - CQĐT, PV06 Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Trại giam Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Nhum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về giết người (phạm tội chưa đạt)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (phạm tội chưa đạt)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Hùng 123
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger