|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Khắc Quyết
Bà Hoàng Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Tại Trại tạm giam - Công an thành phố H; địa chỉ: Xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 17/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 14/11/2024 đối với bị cáo:
LÒ VĂN NINH, sinh ngày 07 tháng 02 năm 1993 tại Sơn La; nơi ĐKTT: Bản P, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi sinh sống: Nhà khách H, tổ dân phố H, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn D, sinh năm 1966 và bà Lò Thị H, sinh năm 1968; có vợ là Quàng Thị T, sinh năm 2001 và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xét xử 03 lần, tại Bản án số 108/2013/HSST ngày 24/4/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Văn N 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 53/2019/HS-ST ngày 19/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt Lò Văn N 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 25/2021/HS-ST ngày 10/6/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xử phạt Lò Văn N 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đều đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 26/4/2024 đến ngày 02/5/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam - Công an thành phố H; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị Minh H1, sinh năm 1990 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; địa chỉ Trung tâm: Số A đường L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người làm chứng: Anh Phạm Văn H2, anh Tòng Văn T1, anh Lò Văn T2, anh Tòng Văn N1, anh Lò Văn S đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Đức M vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa năm 2023, Phạm Văn H2 là chủ thầu xây dựng, thuê Tòng Văn T1, Lò Văn T2 (Tổ trưởng tổ công nhân), Tòng Văn N1, Lò Văn S, Lò Văn N và một số người khác làm nghề đóng cốp pha để lao động tại công trình xây dựng trong Khu D; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. H2 trả lương công nhân từ 290.000 đồng đến 400.000 đồng/người/ngày đã bao gồm chi phí ăn, ở hàng ngày. H2 trả tiền thuê nhà khách H4 thuộc tổ dân phố H, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng để các công nhân nghỉ ngơi, sinh hoạt. Hầu hết những người làm thuê cho H2 đều nghiện ma tuý loại Heroine, trong đó có T1, T2, N1, S, N nên khi mọi người đến gặp H2 xin việc đã trao đổi với H2 là hàng ngày H2 ứng tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/người/ngày để họ mua ma tuý về sử dụng nếu không sẽ không làm được việc cho H2, H2 đồng ý. Thời gian đầu, H2 trực tiếp đưa tiền cho các công nhân để họ tự đi mua ma tuý về sử dụng. Sau đó, các công nhân và T1 thống nhất giao T1 số tiền tạm ứng lương hàng ngày để T1 đi mua ma tuý mang về đưa mọi người sử dụng. Mỗi người sẽ trả công Thư 5.000 đồng/người/ngày hoặc 150.000 đồng/người/tháng. Thư trao đổi lại với H2 nội dung này, được H2 đồng ý. H2 giao T1 tổng hợp những người hàng ngày có nhu cầu tạm ứng tiền để báo lại với H2, để H2 duyệt chi tiền. Sau đó, H2 sẽ trực tiếp đưa tiền T1 nhận, để T1 đi mua ma tuý về phát cho mọi người. Số tiền công của mọi người trả T1 để mua ma tuý, H2 sẽ trừ vào lương của các công nhân và trả Thư tiền các công nhân trả công Thư do nhờ T1 đi mua hộ ma túy. T2 giới thiệu để T1 mua ma tuý của Lương Cao B (là bố nuôi của T2), sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Khoảng 18 giờ đến 20 giờ hàng ngày, T1 sẽ gặp Ba để mua ma tuý mang về phát cho các công nhân.
Đến khoảng tháng 9/2023, H2 điều chuyển đa số công nhân, trong đó có T1 đến làm công trình tại địa bàn phường C, quận N, thành phố Hải Phòng. Còn lại T2, T3, N1, N làm việc tại Đ. H2 giao T2 tổng hợp nhu cầu tạm ứng tiền của nhóm công nhân đang lao động thuê cho H2 tại Đ rồi báo lại với T1 để T1 báo lại với H2, để H2 duyệt chi tiền tạm ứng mua ma tuý. Thư sẽ đưa tiền hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Lương Cao B để mua ma tuý. Sau đó, T1 sẽ liên hệ với T2 để T2 gặp B tại địa bàn quận L nhận ma tuý. Sau khi nhận ma tuý, T2 sẽ mang về đưa những người khác sử dụng và bản thân T2 sử dụng. Trong trường hợp Thành có việc không đi gặp Ba để nhận ma tuý được, T2 nhờ N1, S đi đến gặp Ba để nhận ma tuý về đưa T2, T2 sẽ phát để mọi người sử dụng.
Ngày 24/4/2024, T2 gọi điện thoại nói với T1 về việc T2 có nhu cầu tạm ứng 300.000 đồng mua ma tuý, N1, S, N có nhu cầu tạm ứng mỗi người 200.000 đồng để mua ma tuý. Thư báo lại với H2, H2 đồng ý nên đưa T1 nhận 900.000 đồng. T1 đi đến quán điện thoại có địa chỉ: Số B đường L, quận N, thành phố Hải Phòng của anh Vũ Nhân T4, sinh năm 1986, nơi cư trú: Số B đường L, quận N, thành phố Hải Phòng nhờ chuyển khoản 900.000 đồng vào tài khoản số 2550100078888 đăng ký họ tên Lương Cao B mở tại Ngân hàng Q (Viết tắt: M1) để mua ma tuý với mục đích đưa nhóm công nhân ở Đ sử dụng. T2 gọi điện nói T1 đưa ma tuý, T1 nói T2 đến khu vực Hồ S, quận L, thành phố Hải Phòng gặp Ba để nhận ma tuý. T2 đã nhờ N1, S đi nhận ma tuý từ Ba, N1 và S đồng ý. Khoảng 18 giờ 35 phút cùng ngày, N1 cùng S đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave ALPHA, màu xanh, Biển kiểm soát 27Y1-119.09 đến khu vực đường H, quận L, thành phố Hải Phòng gặp Ba và một người phụ nữ đi trên xe mô tô (không rõ Biển kiểm soát). Người phụ nữ đi cùng B đưa S nhận 01 (một) phong bì bên trong có chứa ma tuý, S cầm ma tuý ở tay trái rồi cùng N1 đi về Đ. Khi cả hai đi đến khu vực vỉa hè phía trước cửa Nhà khách T, tổ dân phố H, phường V, quận Đ thì bị Công an phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng thấy có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra, bắt quả tang N1, S có hành vi cất giấu chất nghi là ma túy trong 01 (một) phong bì thư có 01 túi zip nilon màu trắng, có mép viền màu đỏ, kích thước khoảng (11,5 x 07) cm, bên trong có 04 gói giấy bạc, bên trong các gói giấy bạc đều chứa chất bột màu trắng, dạng cục. Nhẩu, S cùng khai nhận chất bột màu trắng, dạng cục đựng trong 04 gói giấy bạc bị kiểm tra đều là ma túy, loại Heroine. Nên N1, S cùng bị tạm giữ cùng các vật chứng.
Ngày 25/4/2024, H2, T1, T2, N đến Công an quận Đ đầu thú. H2 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15; Thư giao nộp 02 (Hai) gói giấy màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng, dạng cục (T1 khai nhận đó là H3 của T1 mua về với mục đích bán để người khác mua), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A39; Thành giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906.
Ngày 18/5/2024, chị Lê Thị V, sinh năm 1988 (là vợ của H2) giao nộp Cơ quan điều tra 01 quyển sổ ghi chép việc chấm công, chi tạm ứng tiền lương cho các công nhân.
Tại Kết luận giám định số 510/KL-KTHS ngày 28/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận số ma tuý thu giữ khi bắt quả tang N1, S: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,58 gam, loại: Heroine (H).”
Tại Kết luận giám định số 512/KL-KTHS ngày 28/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận số ma tuý do T1 giao nộp: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,18 gam, loại: Heroine (H).”
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) phong bì thư bên trong có 01 túi zip nilon màu trắng, có mép viền màu đỏ, kích thước khoảng (11,5 x 07) cm bên trong túi zip nilon có 04 (bốn) gói giấy bạc; trong đó: Có 02 gói giấy bạc có kích thước tương đối đồng đều nhau khoảng (0,2 x 1,5) cm, 02 gói giấy bạc còn lại có kích thước tương đối đồng đều nhau khoảng (1,5 x 1,5) cm. Tất cả các gói giấy bạc thu giữ khi bắt quả tang N1, S bên trong đều chứa chất bột màu trắng, dạng cục theo biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ cùng ngày 24/4/2024 tại trụ sở Công an phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng (Khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dấu niêm phong số 510MT/PC09 ngày 25/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan) đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn quản lý.
- - 02 gói giấy màu trắng có kích thước tương đối đồng đều nhau khoảng (02 x 02) cm (do T1 giao nộp) bên trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, dạng cục thu theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 25/4/2024 tại trụ sở Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng. Khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dấu niêm phong số 512MT/PC09 ngày 26/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan; 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda Wave ALPHA, màu xanh, Biển kiểm soát 27Y1-119.09 thu giữ của N1 theo biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 24/4/2024; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15 thu giữ của H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A39 thu giữ của T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 thu giữ của T2 theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 25/4/2024; 01 quyển sổ ghi chép việc chấm công, tạm ứng tiền lương của các công nhân do chị Lê Thị V (là vợ của H2) giao nộp ngày 18/5/2024, Cơ quan điều tra đang quản lý để phục vụ việc xử lý về các hành vi giữa Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã có Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn N khai nhận toàn bộ về hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSĐS ngày 17/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, các tình tiết khác có liên quan như nội dung vụ án đã nêu và khai: Bị cáo được Phạm Văn H2 (Chủ thầu đóng cốp pha) thuê để làm việc đóng cốp pha trong công trình xây dựng tại Khu D thuộc phường V, quận Đ từ khoảng giữa năm 2023. Thu nhập không ổn định, do ngày nào mưa thì nghỉ việc, không có tiền lương. N cùng một số công nhân khác cùng nghiện ma túy, nên ngày nào có làm việc, N xin H2 cho tạm ứng 200.000 đồng để tự đi mua ma túy của người không quen biết về sử dụng cho bản thân. Sau đó, N nhờ Tòng Văn T1 mua hộ ma túy về đưa N sử dụng, N có trả công Thư 5.000 đồng/ngày hoặc 150.000 đồng/tháng trừ vào tiền lương của N được nhận từ H2 hàng tháng. Đến khoảng tháng 9/2023, do H2 chuyển T1 cùng một số công nhân khác đi làm việc ở nơi khác. Nên Lò Văn T2 là người tổng hợp số công nhân có nhu cầu tạm ứng lương để mua ma túy, đi nhận ma túy, mang về đưa N để sử dụng cho bản thân (T1, T2 đều là người làm thuê cho H2). Chiều tối ngày 24/4/2024, khi N đang ở nơi nghỉ ngơi hàng ngày tại Nhà khách Thanh Niên, tổ dân phố H, phường V, quận Đ thì nghe T2 nói Tòng Văn N1, Lò Văn S được T2 nhờ đi nhận ma túy về để T2, N, N1, S sử dụng. Trên đường về N1, S đã bị Công an phát hiện, bắt giữ cùng số ma túy. Ngày 25/4/2024, H2, T1, T2, N đến Công an quận Đ đầu thú, khai nhận toàn bộ về hành vi đã thực hiện. N không biết T1 mua ma túy của ai, ở địa chỉ nào, không biết T2 nhận ma túy từ ai, ở địa chỉ nào để đưa N sử dụng.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng; đề xuất với Hội đồng xét xử về mức hình phạt, loại hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác cần phải giải quyết, không xem xét trong vụ án như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lò Văn N từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/4/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ khối lượng ma tuý còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 510MT/PC09 ngày 25/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan. Nhưng tiếp tục tạm giữ để xử lý sau, do có liên quan đến các hành vi giữa Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ. Giao vật chứng nêu trên để Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn đang tạm giữ, tiếp tục tạm giữ cho đến khi hành vi của Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan được điều tra, làm rõ và có Quyết định xử lý vật chứng hoặc khi có Quyết định giải quyết vụ án nêu trên.
Đối với những vật chứng, gồm: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dấu niêm phong số 512MT/PC09 ngày 26/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan; 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda Wave ALPHA, màu xanh, Biển kiểm soát 27Y1-119.09 thu giữ của N1 theo biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 24/4/2024; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15 thu giữ của H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A39 thu giữ của T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 thu giữ của T2 theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 25/4/2024; 01 quyển sổ ghi chép việc chấm công, chi tạm ứng tiền lương của các công nhân do chị Lê Thị V (là vợ của H2) giao nộp ngày 18/5/2024; Cơ quan điều tra đang quản lý để phục vụ cho việc xử lý đối với hành vi đã thực hiện của Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã có Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ. Vì vậy, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với hành vi của Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Tại phiên tòa, bị cáo không tự bào chữa, nhờ Trợ giúp viên trình bày nội dung bào chữa cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo - Bà Vũ Thị Minh H1 trình bày:
- Về tội danh, điều luật áp dụng: Do hành vi phạm tội của bị cáo đã thõa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên Trợ giúp viên không có ý kiến. Các vấn đề khác cần xem xét, giải quyết như: Về tình tiết tăng nặng: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày do có sự nhầm lẫn khi soạn thảo bản Cáo trạng, nên xin rút phần đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” đối với bị cáo là đúng. Về tình tiết giảm nhẹ, hình phạt chính như Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng đều phù hợp, có căn cứ nên Trợ giúp viên đồng ý, không có ý kiến gì khác. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được miễn nghĩa vụ chịu hình phạt bổ sung (không phạt tiền), miễn nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên.
Bị cáo không tranh luận, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.1] Đối với người làm chứng anh Phạm Văn H2, anh Tòng Văn T1, anh Lò Văn T2, anh Tòng Văn N1, anh Lò Văn S vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Đức M đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Tuy nhiên, những người làm chứng đều đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh, điều luật áp dụng:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, đầu thú, các lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định ma tuý; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do nghiện ma túy, ngày 24/4/2024, Lò Văn N có hành vi nhờ người khác mua 200.000 đồng ma túy tương đương với 0,12 gam Heroine để sử dụng cho bản thân ngoài ra không còn mục đích nào khác (là một phần trong tổng số ma túy mua với giá 900.000 đồng, được 0,58 gam Heroine theo Kết luận giám định số 510/KL-KTHS ngày 28/4/2024 của Phòng K Công an thành phố H, do Tòng Văn N1, Lò Văn S trực tiếp đi nhận, trên đường mang về bị bắt quả tang). Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung:
[3] Với hành vi nêu trên của bị cáo, xác định: Do bị cáo có hành vi “nhờ người khác mua 200.000 đồng ma túy tương đương với 0,12 gam Heroine ... để sử dụng cho bản thân ngoài ra không còn mục đích nào khác”. Nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “..., H3 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, do đã bị Tòa án xét xử 01 lần về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 02 lần về tội “Trộm cắp tài sản” (Đều đã được xóa án tích).
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[6] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trật tự an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân bị cáo, kinh tế gia đình của bị cáo, còn là nguyên nhân có thể làm phát sinh loại tội phạm khác. Xác định loại hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã 03 lần bị Tòa án xét xử như đã nêu tại mục [4.] (đều đã được xóa án tích). Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng bản thân nên xác định bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần bắt bị cáo phải tiếp tục cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền ...”. Tuy nhiên, do bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có nguồn thu nào khác. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo cùng đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, không phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
- Về các biện pháp tư pháp:
[8] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 510MT/PC09 ngày 25/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan. Nhưng tiếp tục tạm giữ để xử lý sau, do có liên quan đến các hành vi đã thực hiện của Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã có Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ. Giao vật chứng nêu trên để Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn đang tạm giữ, tiếp tục tạm giữ cho đến khi hành vi của Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan được điều tra, làm rõ và có Quyết định xử lý vật chứng hoặc khi có Quyết định giải quyết vụ án nêu trên (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn).
- Đối với những vật chứng, gồm: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dấu niêm phong số 512MT/PC09 ngày 26/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan; 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda Wave ALPHA, màu xanh, Biển kiểm soát 27Y1-119.09 thu giữ của N1 theo biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 24/4/2024; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15 thu giữ của H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A39 thu giữ của T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 thu giữ của T2 theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 25/4/2024; 01 quyển sổ ghi chép việc chấm công, chi tạm ứng tiền lương của các công nhân do chị Lê Thị V (là vợ của H2) giao nộp ngày 18/5/2024; Cơ quan điều tra đang quản lý để phục vụ cho việc xử lý hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” do Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan đã thực hiện. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã có Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Các vấn đề khác:
[9] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; tại phiên tòa, người bào chữa đề nghị miễn án phí đối với bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo không nộp đơn xin miễn án phí theo quy định. Nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Đối với hành vi của Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 26/4/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chất ma túy sau giám định cùng vỏ bao gói có dấu niêm phong số 510MT/PC09 ngày 25/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan. Nhưng tiếp tục tạm giữ để xử lý sau, do có liên quan đến hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” do Phạm Văn H2, Tòng Văn T1, Lò Văn T2, Tòng Văn N1, Lò Văn S và những người khác có liên quan đã thực hiện: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, làm rõ. Giao vật chứng nêu trên để Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn đang tạm giữ, tiếp tục tạm giữ cho đến khi cho đến khi các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” nêu trên có Quyết định xử lý vật chứng hoặc khi có Quyết định giải quyết vụ án nêu trên (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn).
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy
