Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-11-2024

V/v tranh chấp HNGĐ- ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng Nguyên;

Ông Trần Ngọc Đằng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân Tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tỉnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp HNGĐ - ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 56/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 11 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lê Anh T, sinh năm 1959.

Địa chỉ: E E, S, CA 95827.

Địa chỉ liên hệ: 20c-2b tiamo home đường số A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1959.

Địa chỉ: số F, đường A, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông Lê Anh T có mặt; bà Nguyễn Thanh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn ông Lê Anh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 1973, ông T và bà Nguyễn Thanh T1 quen biết nhau rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Vơ chồng chung sống với nhau tại ấp B, xã B, thị trấn L, tỉnh Sa Đéc (nay là thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp) và có 02 con chung là Lê Thanh T2 (sinh năm 1975) và Lê Anh T3 (sinh năm 1978). Đến năm 1979, ông T bắt đầu sang Hoa Kỳ định cư cho đến hôm nay, ít khi về Việt Nam.

Sau khoảng thời gian dài ở Hoa Kỳ, ông T đã có công việc riêng, cuộc sống riêng; Vợ chồng sống xa nhau quá lâu nên bản thân nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với bà Nguyễn Thanh T1 vì hôn nhân vợ chồng không còn được như xưa. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài nên ông T yêu cầu Toà án giải quyết cho ông T được ly hôn với bà Nguyễn Thanh T1.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên: Lê Thanh T2, sinh ngày 16/02/1975; Lê Anh T3, sinh ngày 12/01/1978. Hiện nay, cả 02 con chung đều đã trưởng thành, tự lao động được nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn bà Nguyễn Thanh T1 có văn bản trình bày ý kiến:

- Về hôn nhân: Bà T1 không đồng ý với yêu cầu đơn phương ly hôn của ông Lê Anh T, vì lý do như sau:

Ông T và bà T1 đã kết hôn từ năm 1973 và có với nhau hai người con chung: Lê Thanh T2 sinh năm 1975 và Lê Anh T3 sinh năm 1978. Tuy nhiên, vào năm 1979, ông T đã tự ý bỏ trốn đi Mỹ (vượt biên) mà không có bất kỳ lý do chính đáng nào. Hành động này của ông T đã gây ra những tổn thương sâu sắc cho bà và các con. Sau khi bỏ đi biền biệt, ông T đã không liên lạc và chu cấp cho gia đình. Ông T để mặc bà T1 gồng gánh chăm lo cho gia đình và cho hai con từ nhỏ cho đến thành niên. Đến nay, ông T quay về không những không bù đắp tình cảm và tài chính cho bà T1 và các con, mà còn đòi yêu cầu ly hôn. Cho dù ông T không còn tình cảm với bà T1, nhưng với đạo lý làm người, trách nhiệm làm cha, ông không được phép cư xử như vậy;

Do đó, bà T1 không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T.

- Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên: Lê Thanh T2, sinh ngày 16/02/1975 và Lê Anh T3, sinh ngày 12/01/1978. Hiện hai con chung đã trưởng thành, tự lao động được.

- Về nợ chung và tài sản chung: Không có.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Ông Lê Anh T và bà Nguyễn Thanh T1 là vợ chồng hợp pháp; ông T trình bày là vợ chồng không đăng ký kết hôn, sống với nhau từ năm 1973, không đăng ký kết hôn; còn bà T1 trình bày là vợ chồng sống với nhau từ năm 1973 và có đăng ký kết hôn năm 1978 tại Ủy Ban Nhân Dân xã M, huyện L;

Tuy nhiên, ông T bà T1 đều thừa nhận sống chung với nhau từ năm 1973, tức là trước 03/01/1987 nên được xem là hôn nhân thực tế, hôn nhân của ông T, bà T1 được pháp luật công nhận là hợp pháp. Nay ông T nộp đơn yêu cầu ly hôn với bà T1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam; Theo quy định tại Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án ly hôn này được áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của ông Lê Anh T về việc yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thanh T1.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa ông T bà T1 là có tìm hiểu trước; quen nhau được một thời gian thì rồi quyết định tiến tới hôn nhân; Sau khi kết hôn thì ông T, bà Thủy C sống với nhau tại ấp B, xã B, thị trấn L, tỉnh Sa Đéc (nay là thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp);

Theo ông T trình bày: đến năm 1979, do cuộc sống gặp nhiều khó khăn, ông đi làm để lo cho gia đình thì ông đã bị đưa xuống tàu và qua Mỹ sinh sống. Sau đó, ông T cũng đã có tìm cách để liên lạc về gia đình, nhưng lúc này gia đình của ông không thuận thảo, chị em mất đoàn kết, tranh chấp cự cải nên từ đó ông cũng ít liên lạc, ông cũng có gởi tiền về để lo cho gia đình nhưng đều bị gia đình phủ nhận việc này, đến khi cha ông mất thì tài sản cũng được cho lại con của ông, ông không có ý kiến gì. Do xa nhau đã quá lâu nên tình cảm giữa ông và bà T1 dần phai nhạt, tình cảm không còn được như xưa; Hiện nay, ông T đã có công việc riêng, cuộc sống riêng; Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, nên ông T yêu cầu Toà án giải quyết cho ông T được ly hôn với bà Nguyễn Thanh T1.

Còn bà T1 thì không đồng ý ly hôn, mặc dù bà cũng thừa nhận thời gian sống xa nhau như ông T đã trình bày, bà cũng không còn tình cảm gì với ông T. Trong văn bản ý kiến bà T1 có yêu cầu ông T phải bồi đắp tổn thất tinh thần và vật chất của cả một tuổi thanh xuân của bà nhưng bà T1 không đưa ra được yêu cầu cụ thể để Hội đồng xét xử xem xét; đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, nếu sau này bà T1 có căn cứ để chứng minh thì có quyền yêu cầu khởi kiện bằng một vụ án khác.

Tại phiên tòa hôm nay; ông T vẫn quyết định yêu cầu được ly hôn với bà T1; còn bà T1 mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng bà T1 cũng đã xác định ông T không còn tình cảm với bà, giữa hai người không thể nào hàn gắn được và bà T1 cũng không đưa ra được phương thức để hàn gắng tình cảm vợ chồng.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa ông T và bà T1 đã không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông T yêu cầu xin ly hôn với bà T1 là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Thanh T2, sinh ngày 16/02/1975 và Lê Anh T3, sinh ngày 12/01/1978. Ông T, bà T1 đều xác định hiện hai con chung đã trưởng thành, tự lao động được nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà T1 đều xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải chịu tiền án dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 147, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm b khoản 1 Điều 470, khoản 5 Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Anh T.

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Anh T được ly hôn với bà Nguyễn Thanh T1;

+ Về con chung: Ông T và bà T1 thống nhất có 02 con chung tên Lê Thanh T2, sinh ngày 16/02/1975 và Lê Anh T3, sinh ngày 12/01/1978. Hiện hai con chung đã trưởng thành, tự lao động được nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà T1 đều xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Ông Lê Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0013045 ngày 16/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-THA TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cục THADS Tỉnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Võ Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hngđ - ly hôn

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HNGĐ - ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn với bà Nguyễn Thanh Thủy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger